Chương 16-2: Tiêu hồn 2

Sau khi dùng bữa sáng xong, tôi đột nhiên nhớ tới những lời mà Thẩm Hành đã nói đêm qua: A Uyển, chúng ta hãy sinh một đứa bé nhé. Tôi sợ đến nỗi toàn thân run lên lẩy bẩy, đêm qua đã mây mưa với nhau bao nhiêu lần, lúc này có lẽ trong bụng tôi đã có giọt máu của Thẩm Hành rồi ấy chứ.

Tôi không muốn cái bụng của mình nhô lên chút nào, cũng không hề muốn có con. Nếu tôi thực sự đã mang giọt máu của Thẩm Hành trong bụng thì ít nhất trong vòng một năm sẽ không thể rời khỏi y. Không có y thuật và sự che chở của y, bất cứ lúc nào tôi cũng có thể gặp phải chuyện một xác hai mạng.

Tôi biết là lời này không thể nói thẳng với Thẩm Hành được.

Nếu Thẩm Hành biết suy nghĩ của tôi, y nhất định sẽ không để cho tôi được như ý nguyện.

Tôi lén gọi Bích Dung lại bảo: “Ra ngoài mua thuốc tránh thai về đây cho ta. Hãy nhớ kĩ, việc này phải bí mật, đừng nói cho bất kỳ ai biết, kể cả Lê Tâm.” Không phải tôi không tin Lê Tâm, nhưng việc này càng ít người biết càng tốt, hơn nữa sau một thời gian quan sát, tôi cứ luôn có cảm giác Lê Tâm hình như ngày càng nghiêng về phía Thẩm Hành.

Còn Bích Dung thì khác.

Thị tới bên tôi vốn là tuân theo di nguyện của Bích Đồng, ắt sẽ không bao giờ làm trái ý tôi.

Bích Dung đáp “vâng” một tiếng.

Tôi suy nghĩ một chút, cảm thấy cứ nên cẩn thận một chút thì hơn, vì với sự cẩn thận của Thẩm Hành, y đã phái người theo dõi Bích Dung rồi cũng chưa biết chừng. Thế là tôi lại nói: “Ta đã tới Đại Phụng triều lâu như vậy rồi mà chưa từng ra ngoài ngắm xem đô thành của Đại Phụng triều có gì khác với Thiên Long triều. Ngươi hãy ra ngoài kêu người chuẩn bị sẵn xe ngựa, nửa canh giờ nữa chúng ta sẽ khởi hành. Đến lúc đó ta sẽ bảo ngươi đi mua một số thứ đồ chơi thú vị, ngươi hãy thừa dịp ấy mà lén đi mua thuốc tránh thai. Nhớ lấy, việc này phải làm thật cẩn cận, đừng để lộ chút sơ hở nào.”

Bích Dung khẽ gật đầu.

Ngẫm lại thì từ khi tới đô thành Đại Phụng triều đến giờ đúng là tôi chưa từng ra ngoài lần nào. Đầu tiên là phải dưỡng thương trong phủ Thái tử, tiếp đến lại phải chuẩn bị cho buổi hôn lễ, thành ra đã đến được hơn một tháng rồi mà tôi còn chưa rõ đô thành Đại Phụng triều rốt cuộc tròn méo ra sao.

Tôi ngồi trong xe ngựa, vén rèm xe lên nhìn ra phía ngoài.

Ồ, nơi này cũng phồn hoa và náo nhiệt hệt như thành Kiến Trung vậy, song vẫn có những đặc điểm riêng của mình. Dân phong Đại Phụng triều quả nhiên nề nếp, tôi đã nhìn suốt một hồi lâu rồi mà vẫn chẳng thấy trên đường có bao nhiêu cô nương trẻ tuổi đi lại, dù có một vài người thì ai cũng đều đeo khăn che mặt rất dày, đã thế trên đầu còn đội mũ có mạng che, thành ra tôi chẳng thể thấy được mặt mũi họ trông như thế nào, chỉ từ dáng người tha thướt mới đoán được họ là con gái.

Tôi nói: “Đúng là nhạt nhẽo quá chừng. Vẫn là Thiên Long triều tốt hơn, các cô nương trên đường nhiệt tình như lửa, xiêm y diễm lệ, chỉ nhìn thoáng qua thôi cũng có thể nhìn thấy mỹ nhân.”

Lê Tâm cười nói: “Thiên Long triều có chỗ tốt của Thiên Long triều, Đại Phụng triều cũng có chỗ tốt của Đại Phụng triều.”

Bích Dung cũng nhỏ giọng nói: “Có lẽ chờ sau khi tân đế đăng cơ, cảnh tượng ở Đại Phụng triều sẽ có một phen đổi khác.”

Nghe Bích Dung nói như vậy, tôi bỗng dưng nhớ tới một câu nói của Thẩm Hành, đó là y sẽ không làm Hoàng đế. Tôi vẫn luôn nghĩ rằng đã là nam nhân thì ai cũng đều muốn làm Hoàng đế, cho nên lời này của Thẩm Hành tạm thời vẫn chưa thể tin tưởng hoàn toàn được.

Tôi uể oải ngáp dài một cái, nói: “Ngồi trong xe ngựa mãi thật là ngột ngạt quá, chúng ta xuống xe đi lại một chút nào.”

Lê Tâm lấy ra một chiếc mũ có mạng che kèm khăn che mặt, tôi vốn định từ chối, nhưng ngẫm lại, chẳng phải Thẩm Hành đã nói Tư Mã Cẩn Du đang ở Đại Phụng triều ư? Lỡ như lúc này hắn đang ở trong đô thành mà tôi lại bị hắn nhìn thấy, vậy thì tuyệt đối không phải là chuyện gì hay ho cả.

Thế là tôi bèn đội mũ có mạng che lên, lại đeo luôn cả khăn che mặt.

Sau khi xuống xe ngựa, tôi hết nhìn trái lại ngó phải, cảm thấy nơi này vô cùng mới mẻ. Sau khi đi được một quãng, tôi quay qua nói với Bích Dung: “Vừa rồi ta nhìn thấy phía bên kia có rất nhiều thứ thú vị, ngươi qua đó mua một ít về phủ cho ta.”

Sau đó, tôi lại nói với Lê Tâm: “Chúng ta đi tìm một quán trà nào đó ngồi tạm thôi.”

Quán trà ở Đại Phụng triều cũng khá náo nhiệt, sau khi đi vào, tôi liền tìm lấy một chỗ trong góc mà ngồi xuống. Tiểu nhị đi tới hỏi tôi muốn uống gì, tôi ngó nhìn bàn bên cạnh một chút, rồi nói: “Mang một bình trà loại tốt nhất của các ngươi lên đây, cho thêm mấy đĩa đồ điểm tâm nữa.”

“Dạ dạ, có ngay đây, xin khách quan đợi cho một chút.”

Tôi quan sát quán trà, thấy mọi thứ bên trong được bố trí khá tinh tế, có mấy phần phong cách của vùng Giang Nam. Mọi người xung quanh đều túm năm tụm ba lại với nhau, trông dáng vẻ hết sức thong dong nhàn nhã.

Ngồi ở bàn cách chỗ tôi không xa là hai nam tử trẻ tuổi, nói chuyện rất lớn tiếng, tôi đoán chừng dù có đứng ở bên ngoài quán trà cũng có thể nghe thấy rõ ràng. Lê Tâm đứng sau lưng tôi khẽ nói: “Công chúa, chỗ này ồn ào quá, hay là chúng ta đi tìm nơi khác yên tĩnh hơn nhé? Hơn nữa em thấy nơi này cũng chẳng an toàn gì cả.”

Tôi nói: “Ngươi sợ cái gì, nơi này vốn là đô thành, việc trị an hẳn phải rất tốt, hơn nữa khi chúng ta rời khỏi phủ Thái tử chắc chắn đã có rất nhiều ám vệ đi theo bảo vệ rồi.”

Mà điểm mấu chốt nhất là thường ngày ở trong phủ Thái tử tôi chẳng biết được bao nhiêu tin tức, ở giữa một quán trà ồn ào thế này thì mới dễ nghe ngóng được những tin tức mà tôi cần.

Như thế, lỡ như xảy ra tình huống gì không hay thì tôi cũng tiện ứng phó.

“…Từ sau khi triều ta và Thiên Long triều liên hôn, lượng người Thiên Long triều xuất hiện trong đô thành của chúng ta càng lúc càng nhiều.”

“Nói tới việc này thì ta có biết được một tin mới. Trong Trích Tinh lâu ở huyện Dung Hòe vừa xuất hiện một người Thiên Long triều, người này không chỉ đàn hay mà còn có một khuôn mặt tuyệt đẹp nữa.” Vừa nói người trẻ tuổi đó vừa nở một nụ cười dâʍ ɖu͙©. “Điều mấu chốt y còn là nam nhân.”

“Phì, ngươi chỉ háo cái ngón này thôi.”

“Chuyện này thực không thể trách ta được, trách thì trách y là nam nhân mà lại có bộ dạng như thế, muốn khiến người ta không nghĩ về phương diện đó cũng không được. Để ta nhớ lại xem nào, tên là gì ấy nhỉ? À, phải rồi, tên là Dịch Minh Viễn.”

Tôi bất giác ngây người.

Lê Tâm không kìm được bất thốt: “Úi chao, Công chúa, đó không phải là Dịch Phong công tử ư? Lẽ nào y cũng tới Đại Phụng triều rồi?”

Dịch Phong tới Đại Phụng triều thực là một chuyện nằm ngoài ý liệu của tôi. Tôi vốn cứ ngỡ y sẽ tìm lấy một nơi yên tĩnh vắng vẻ nào đó ở Thiên Long triều mà sống nốt phần đời còn lại, chẳng ngờ hôm nay lại nghe được tin tức này.

Nam tử trẻ tuổi kia lại nói tiếp: “Có điều nói ra kể cũng lạ, gã Dịch Minh Viễn này chỉ biết đàn duy nhất một khúc nhạc thôi.”

“Ồ? Khúc gì vậy?”

Hắn đáp: “Nghe người ta nói là Phương phi tận, một khúc nhạc của Thiên Long triều, ta cũng chưa từng được nghe bao giờ.”

Tôi không khỏi ngây người ra lần nữa.

Tôi biết đây là khúc nhạc gì. Năm xưa khi giao tình giữa tôi và Dịch Phong đang ở lúc tốt nhất, có một ngày Dịch Phong đã nổi hứng sáng tác ra khúc nhạc này, vừa khéo lúc đó hoa đào bên ngoài cửa sổ đang rụng, thế là y liền đặt cho khúc nhạc cái tên Phương phi tận.

Khúc nhạc rất ai oán, nghe nhiều rồi sẽ cảm thấy mọi thứ trước mắt đều ngợp trong một mảng tối tăm, dần dần còn khiến người ta sinh ra cảm giác tuyệt vọng.

Khi đó tôi nghe xong liền cười trêu Dịch Phong: “Khúc nhạc này có lẽ miêu tả tâm trạng của một người đã bất chấp tất cả mà liều một phen song cuối cùng vẫn thất bại, cho nên có thể nói là tuyệt vọng tới tột cùng. Ừm, nếu sau này ngươi gặp phải khó khăn gì đó thì hãy gảy khúc nhạc này lên, chỉ cần ta nghe thấy thì ắt sẽ đến cứu ngươi, thế nào?”

Lúc ấy Dịch Phong đã mỉm cười đáp: “Được.”

Lê Tâm đứng sau lưng tôi khẽ làu bàu: “Sao em lại không biết là ở Thiên Long triều có một khúc nhạc như vậy nhỉ…”

Tôi nhủ thầm, chẳng biết Dịch Phong bây giờ đang gặp phải khó khăn gì nhỉ? Người này, liệu tôi có nên đi cứu hay không?

Khi về đến phủ Thái tử, tôi vẫn không nhìn thấy bóng dáng Thẩm Hành đâu, có điều bữa tối thì đã được chuẩn bị sẵn rồi.

Tôi nếm thử, thấy những món ăn đó đều là tự tay Thẩm Hành làm.

Tôi lập tức cảm thấy kỳ lạ, nhưng cũng không quá lưu tâm. Sau khi dùng bữa tối xong, Bích Dung liền lén mang thuốc tránh thai đã được sắc xong tới cho tôi. Tôi vừa định uống thì chợt nghe “rầm” một tiếng, cửa đã bị ai đó đẩy ra.

Tôi ngước mắt nhìn, thấy người đi vào chính là Thẩm Hành đã biến mất cả một ngày nay.

Vừa nhìn thấy y, tôi liền không khỏi có chút chột dạ, thế là chẳng để tâm tới việc bát thuốc tránh thai vừa mới được sắc xong, cũng không buồn thổi, cứ thế uống ực một hơi cạn sạch. Khi đặt bát thuốc xuống, tôi mới có cảm giác lưỡi mình bị bỏng đến tê dại.

Bích Dung tức thì mở to hai mắt.

Tôi thè lưỡi ra, dùng tay quạt không ngừng, cả khuôn mặt đều trở nên đỏ lựng.

Thẩm Hành nhìn chằm chằm vào tôi. “Nàng vừa uống cái gì vậy?”

Tôi lo Thẩm Hành sẽ ép tôi nôn thuốc ra, bèn quyết định dùng chiêu kéo dài thời gian, hỏi lảng qua chuyện khác: “Sư phụ, hôm nay không phải là ngày hưu mộc ư? Sư phụ đi đâu mà cả ngày chẳng thấy bóng dáng gì hết vậy?”

Thẩm Hành nghe tôi hỏi như vậy, ánh mắt không khỏi có chút láo liên.

Trong tiểu thuyết thường xuất hiện tình cảnh này, tôi đã quá quen thuộc rồi, liền lớn tiếng hỏi dồn: “Có phải sư phụ đã ra ngoài tầm hoa vấn liễu không thế?”

“Nàng…”

Thẩm Hành ho sù sụ mấy tiếng, dường như không ngờ được tôi lại hỏi như vậy, sắc mặt bất giác tái xanh. Tôi vội vàng nháy mắt ra hiệu cho Bích Dung, bảo thị bưng bát thuốc đi, nhân tiện tiêu hủy luôn bã thuốc để khỏi lưu lại dấu tích.

Bích Dung lặng lẽ bước lại gần tôi, sau khi cầm được bát thuốc liền nhanh chóng rời đi.

Thẩm Hành tựa hồ chẳng mấy lưu tâm tới điều này, chỉ nhìn chằm chằm vào tôi.

Sau khi cửa được đóng lại, tôi thầm thở phào một hơi, có điều khi nhìn qua phía Thẩm Hành, tự nơi đáy lòng tôi lại dâng lên cảm giác thấp thỏm. “Sư… sư phụ… Cứ nhìn ta như thế mãi làm gì? Hôm nay rõ ràng là ngày hưu mộc, vậy mà người lại biến mất…”

Thẩm Hành cắt ngang lời tôi: “A Uyển, nàng chớ có cố tình nói lảng qua chuyện khác.”

Tôi ngẩng cao đầu nói: “Sư phụ nói trước đi, tại sao cả ngày nay sư phụ đều không ở trong phủ?”

“Thế nàng nghĩ nếu cả ngày ta đều không ở trong phủ thì đồ ăn của nàng là do ai làm?”

“Vậy người đã đi đâu?”

Trên mặt Thẩm Hành thoáng hiện vẻ lúng túng.

Dường như phải lấy hết can đảm, y nói liền một hơi: “Vì hôm qua ta đã bỏ thuốc nàng, cho nên hôm nay mới không có mặt mũi nào gặp nàng.”

Bỏ… bỏ thuốc…

Nghe Thẩm Hành nói như vậy tôi mới nhớ ra chuyện này, thế là vội vàng nói: “Sư phụ đã bỏ thuốc ta, vậy là sư phụ không đúng rồi.”

Thẩm Hành nhìn chằm chằm vào tôi. “Vậy đêm qua ta bị bỏ thuốc thì là ai không đúng?”

Tôi nói: “Người bỏ thuốc đâu phải là ta chứ.”

“Ta biết, nhưng nàng biết rõ đó là xuân dược, thế mà vẫn đẩy ta vào lòng một nữ nhân khác, chuyện này rốt cuộc là ai không đúng đây? A Uyển, nàng là thê tử của ta.” Trong mắt Thẩm Hành lộ ra những tia tổn thương sâu sắc.

Tôi vừa định nói “vậy sư phụ gài bẫy ta để bắt ta gả cho người thì là ai không đúng” thì Thẩm Hành đột nhiên lại thở dài một hơi thật nặng nề.

“A Uyển, ta biết là nàng vừa mới uống thuốc gì.”

Tôi lập tức im bặt.

Thẩm Hành nói: “Thứ thuốc đó có hại cho thân thể, sau này nàng đừng uống nữa. Nếu nàng thực sự không muốn sinh con, vậy ta sẽ không đυ.ng vào nàng nữa.”

Sau đó, Thẩm Hành quả thực đã làm như lời y nói, không đυ.ng vào tôi thêm lần nào. Tuy có lúc cũng khá hoài niệm cảm giác tiêu hồn kia, nhưng nghĩ đến việc sau khi xong chuyện cần uống thuốc tránh thai, tôi chỉ đành tạm nén ý nghĩ này xuống.

Có điều từ sau đêm đó, ánh mắt của Thẩm Hành khi nhìn tôi trở nên có chút phức tạp.

Nói ra thì đúng là kỳ lạ, hồi còn làm Quận chúa ở Thiên Long triều tôi thường xuyên phải bấm bụng đi giao du với các nữ tử quyền quý có địa vị tương đương, nhưng sau khi tới Đại Phụng triều và trở thành Thái tử phi, tôi căn bản không cần đi gặp gỡ ai cả, thỉnh thoảng trong cung mở tiệc thì Thẩm Hành cũng đều đi một mình, chưa bao giờ tôi đi theo.

Có lúc tôi nổi hứng, nói với Thẩm Hành là cứ để tôi theo vào trong cung ngắm nghía một phen cũng tốt, nhưng y lại hờ hững nói: “Hoàng cung thì nơi nào mà chẳng vậy, không có gì khác nhau đâu. Nàng cứ ở yên trong phủ là được, nếu thấy buồn chán thì ra ngoài đi lại cho khuây khỏa cũng được.”

Đêm qua Nam Hoa Công chúa tổ chức một bữa tiệc trong cung, Thẩm Hành vẫn đi dự một mình như trước, mãi đến nửa đêm mới về phủ.

Y uống say bí tỉ, trên chiếc áo gấm nhuốm đầy mùi rượu.

Tôi đưa tay che mũi nói: “Sư phụ, người uống nhiều rượu quá.”

Y hơi nheo mắt nhìn tôi chăm chú. “A Uyển đang chê ghét ta đó ư?”

Tôi không hề có ý này, có điều tôi cũng biết nói lý với một người say rượu là việc làm hết sức vô nghĩa, vì thế không hề trả lời, chỉ gọi người hầu đi vào hầu hạ Thẩm Hành. Chẳng ngờ Thẩm Hành lại nổi nóng, đuổi tất cả bọn người hầu ra ngoài, sau đó nắm lấy bàn tay tôi, nắm rất chặt, miệng không ngớt gọi tên tôi.

Tôi đành đầu hàng, nói: “Ta không hề chê ghét sư phụ.”

Thẩm Hành nở một nụ cười hồn nhiên, khiến tôi có cảm giác y chẳng khác nào một đứa bé.

Y hơi dùng sức, kéo tôi vào lòng, sau đó ôm chặt lấy tôi, khiến tôi thiếu chút nữa không thở nổi. Thẩm Hành sau khi uống rượu say thì cứ như biến thành một người khác vậy.

Tôi muốn đẩy y ra cho dễ thở, nhưng vừa mới bắt đầu làm vậy, y đã vùi đầu lên bờ vai tôi. Chẳng biết có phải là do ảo giác hay không, nhưng tôi lại có cảm giác bờ vai của mình lúc này đã hơi ươn ướt.

Sư phụ khóc rồi.

Khi ý nghĩ này xuất hiện trong đầu, tôi bất giác đờ người ra, hay nói chính xác hơn là tôi chấn động tột cùng. Tôi xưa nay vẫn luôn cảm thấy Thẩm Hành là một người toàn năng, không việc gì là không làm được, hai chữ “nước mắt” dường như vĩnh viễn chẳng có chút quan hệ nào với y.

“Ta biết là nàng không có trái tim, cho nên không trách nàng. Nhưng ta xót thương nàng của kiếp trước, nỗi khổ thế này đến ta còn khó lòng chịu được, nói chi đến nàng của kiếp trước.”

Nghe thấy lời này của Thẩm Hành, tôi thực sự cảm thấy không thoải mái.

Tôi đưa tay sờ ngực, thấy hơi đau.