Chương 20: Thầy Tu Dòng Chết Chìm

Chỉ khi chân tay tê cứng vì lạnh, Aeron Greyjoy mới lật đật quay vào bờ và mặc lại quần áo.

Ông đã bỏ chạy trước Mắt Quạ như thể ông vẫn còn là con người yếu ớt năm xưa, chỉ đến khi những cơn sóng biển vỗ lên mặt và đầu, ông mới nhớ ra rằng người đàn ông đó đã không còn trên đời này nữa. Ta được tái sinh từ biển cả, một người đàn ông cứng rắn và mạnh mẽ hơn. Không người trần mắt thịt nào có thể khiến ông sợ hãi, kể cả bóng tối hay sâu thẳm trong tâm hồn kinh khủng của ông. Kể

cả tiếng cửa mở, tiếng kẽo kẹt của chiếc bản lề gỉ sét.

Chiếc áo thầy tu kêu lách tách khi ông kéo nó xuống, muối vẫn bám vào chiếc áo cứng đơ từ lần giặt trước cách đây hai tuần. Len ướt bám chặt vào ngực ông, uống lấy từng giọt nước biển nhỏ xuống

từ tóc ông. Ông múc đầy bình nước rồi quàng nó qua vai.

Khi đi bộ dọc bờ biển, một người theo giáo phái Chết Chìm trên đường đi vệ sinh trở về đâm sầm vào ông trong bóng tối. “Damphair,” anh ta lẩm bẩm. Aeron đặt một tay lên đầu anh ta, ban phước cho anh ta và đi tiếp. Mặt đất dưới chân ông ban đầu thoai thoải, nhưng sau đó mỗi lúc một dốc hơn. Khi

cảm nhận được những bụi cỏ giữa các kẽ chân, ông biết rằng mình đã bỏ lại bờ biển phía sau. Ông chậm rãi vừa trèo lên, vừa lắng nghe tiếng sóng. Biển cả không bao giờ biết mệt. Ta cũng phải như vậy.

Trên đỉnh đồi, bốn mươi tư dẻ xương sườn bằng đá khổng lồ nhô lên từ mặt đất như những cành cây xám nhạt. Khung cảnh đó khiến cho tim Aeron đập nhanh hơn. Nagga là con rồng biển đầu tiên, con rồng vĩ đại nhất ngoi lên từ biển cả. Thức ăn của nó là kraken và thủy quái khổng lồ; nó có thể

nhấn chìm cả quần đảo trong cơn tức giận. Thế nhưng Vua Xám đã gϊếŧ nó và Thần Chết Chìm đã biến xương nó thành đá để người đời vĩnh viễn không bao giờ nghi ngờ chiến công và lòng can đảm của các vị vua đầu tiên. Xương sườn của Nagga trở thành xà và cột của trường sảnh, trong khi hàm của nó trở thành chiếc ngai vàng của ông trong suốt một nghìn lẻ bảy năm trị vì, Aeron nhớ như vậy. Tại đây, ông ta đã lấy nàng tiên cá làm vợ và lên kế hoạch chiến tranh chống lại Thần Bão Tố. Từ đây, ông cai trị cả đá lẫn muối, mặc những chiếc áo choàng làm bằng rong biển dệt và đội chiếc vương miện cao màu xám làm từ răng của Nagga.

Nhưng đó là vào buổi sơ khai, khi thần thánh vẫn cư ngụ trên mặt đất và trong lòng biển. Vua Xám đã tận dụng ngọn lửa sống của Nagga để sưởi ấm cho tòa lâu đài. Những tấm thảm dệt từ rong biển bạc

được treo trên tường vô cùng đẹp mắt. Các chiến binh của Vua Xám đã mở tiệc với đồ ăn phong phú từ biển cả, trên một chiếc bàn hình sao biển vĩ đại và những chiếc ngai được chạm trổ bằng xà cừ. Qua rồi, thời huy hoàng đó đã qua rồi. Giờ đây con người nhỏ bé hơn, cuộc sống của họ cũng ngắn ngủi hơn. Thần Bão Tố đã nhấn chìm ngọn lửa của Nagga khi Vua Xám qua đời, toàn bộ ghế và thảm đều bị đánh cắp, nóc và tường nhà trở nên mục nát. Ngay cả chiếc ngai vĩ đại của Vua Xám làm từ

những chiếc răng nanh cũng đã bị biển cả nuốt trôi. Chỉ còn những dẻ xương của Nagga đủ dẻo dai ở lại để nhắc nhở cư dân Quần Đảo Iron về những điều diệu kỳ trong quá khứ.

Vậy là đủ rồi, Aeron Greyjoy nghĩ.

Chín bậc thang rộng được đẽo trên đá từ đỉnh đồi trở xuống, đằng sau là những ngọn đồi hoang vu vùng Old Wyk và dãy núi phía xa tối đen, ảm đạm và dữ tợn. Aeron dừng lại ở nơi trước kia là cánh cửa, mở nút bần của chiếc túi da, uống một ngụm nước muối rồi quay ra nhìn về phía biển. Chúng ta sinh ra từ biển, và vì thế phải trở về với biển. Thậm chí từ đây ông vẫn nghe thấy tiếng sóng vỗ ì ầm không dứt và cảm nhận được sức mạnh của vị thần đang ẩn mình dưới nước. Aeron quỳ xuống. Ngài đã cử người tới đây với con, ông cầu nguyện. Họ rời nơi ở, bỏ nhà cửa, lâu đài và thành quách để đến

đây bên dưới những dẻ xương của Nagga, họ đến từ những làng chài và những thung lũng xa xôi hẻo lánh. Giờ xin ngài hãy cho họ trí khôn để họ biết đâu là vị vua đích thực, và cho họ sức mạnh để tránh xa những điều dối trá. Đêm nào ông cũng thức cầu nguyện bởi khi vị thần nhập vào ông, Aeron Greyjoy không cần ngủ, giống như những con sóng bạc đầu hay những loài cá dưới biển sâu.

Những đám mây đen hối hả trôi theo gió khi những tia sáng đầu tiên chiếu xuống mặt đất. Bầu trời đen chuyển thành màu xám như đá phiến; biển chuyển từ đen kịt sang xanh đen; còn dãy Great Wyk âm u ngoài vịnh cũng khoác lên mình màu lục lam của những cây thông lính. Màu sắc trở lại với thế gian,

hàng trăm lá cờ được giương lên và bắt đầu bay phần phật. Aeron trông thấy Con Cá Bạc của Nhà Botley, Mặt Trăng Máu của Nhà Wynch và Những Cây Thông Xanh Thẫm của Nhà Orkwood. Ông nhìn thấy tù và chiến, thủy quái, lưỡi hái, và quái vật kraken vĩ đại màu vàng ở khắp mọi nơi. Dưới cờ, đám đầy tớ và vợ lẽ bắt đầu đi lại, cời than và moi ruột cá để làm bữa sáng cho các tiểu vương và thuyền trưởng. Bình minh thả những tia nắng xuống bờ biển đầy sỏi đá; Damphair lặng lẽ quan sát mọi người thức giấc, hất những tấm chăn bằng da hải cẩu sang một bên và uống cốc bia đầu tiên trong ngày. Hãy cứ uống đi, ông nghĩ, bởi hôm nay chúng ta sẽ phải làm việc để phục vụ thần linh.

Biển cả cũng đang hào hứng. Sóng biển mỗi lúc một to dần khi gió nổi lên, từng đám bụi nước xô vào những con thuyền dài, tung bọt trắng xóa. Thần Chết Chìm đã thức giấc, Aeron nghĩ vậy. Ông có thể nghe thấy giọng nói của ngài vọng lên từ đáy biển sâu. Hôm nay ta sẽ ở đây với ngươi, người đầy tớ trung thành và mạnh mẽ, giọng nói văng vẳng trong tai ông. Không có kẻ vô thần nào được ngồi lên chiếc Ngai Đá Biển của ta.

Người theo giáo phái Chết Chìm của Damphair tìm được ông bên dưới những dẻ sườn hình vòm cung của Nagga. Ông đang đứng thẳng người và nghiêm nghị với mái tóc đen dài tung bay trong gió.

“Đến lúc chưa ạ?” Rus hỏi. Aeron gật đầu nói, “Đến lúc rồi. Hãy thổi còi triệu tập đi.”

Các thầy tu dòng Chết Chìm cầm dùi cui làm bằng gỗ trôi lên và bắt đầu đập chúng vào nhau khi họ đi từ trên đồi xuống. Những người khác cũng tham gia với họ, tiếng huyên náo lan ra khắp bờ biển.

Tiếng lóc cóc, lách cách mà nó tạo ra nghe thật đáng sợ, như thể hàng trăm thân cây đang đánh nhau

bằng cành vậy. Tiếng trống định âm bắt đầu vang lên, bum bum bum, bum bum bum bum. Tiếp theo là hai hồi tù và chiến liên tiếp.

Àhúúúúúúúúúúú...

Mọi người rời đám lửa và di chuyển tới lâu đài bằng xương của Vua Xám: các tay chèo, người lái thuyền, thợ sửa buồm, thợ đóng thuyền, chiến binh với rìu trong tay và ngư dân cầm lưới. Một số người có đầy tớ đi theo phục vụ; một số người có vợ lẽ. Những ai thường xuyên có các chuyến hải trình tới đất liền được các học sĩ, ca sĩ và hiệp sĩ săn sóc rất chu đáo. Những người bình thường tập trung thành một đám đông hình trăng lưỡi liềm dưới chân đồi, với đầy tớ, trẻ em và phụ nữ phía sau. Các thuyền trưởng và tiểu vương bắt đầu leo lên dốc. Aeron Damphair nhìn thấy Sigfry Stonetree Vui

Vẻ, Andrik Nghiêm Nghị, Ser Harras Harlaw hiệp sĩ. Lãnh chúa Baelor Blacktyde mặc chiếc áo choàng lông chồn zibelin đứng bên cạnh người Nhà Stonehouse trong bộ da hải cẩu rách rưới.

Victarion nổi bật giữa bọn họ, chỉ thua Andrik. Anh trai ông không đội mũ nhưng toàn thân mặc giáp, chiếc áo choàng hình thủy quái kraken màu vàng tung bay trên vai. Anh ấy sẽ là vua của chúng ta. Nhìn anh ấy, ai có thể nghi ngờ điều đó?

Khi Damphair giơ đôi tay xương xẩu lên, tiếng trống và tù và im bặt, những người theo giáo phái Chết Chìm hạ thấp dùi cui và mọi âm thanh lắng xuống. Lúc này chỉ còn tiếng sóng xô bờ, tiếng gầm rú của biển khơi mà không ai có thể làm chúng yên lặng được. “Chúng ta sinh ra từ biển, và tất cả chúng

ta sẽ trở về với biển,” Aeron bắt đầu nói nhỏ nhẹ để mọi người chú ý lắng nghe. “Thần Bão Tố đã phẫn nộ lôi Balon ra khỏi lâu đài và ném ngài xuống biển, nhưng chắc chắn giờ đây ngài đang dự tiệc trong lâu đài bằng nước của Thần Chết Chìm bên dưới những con sóng ngoài kia.” Ông ngước mắt lên trời. “Balon đã chết! Vị vua Sắt đã chết!”

“Nhà vua đã chết!” đám người theo giáo phái Chết Chìm hò hét.

“Tuy nhiên, những gì đã chết có thể không bao giờ tàn lụi, mà sẽ tái sinh, cứng rắn và mạnh mẽ hơn!” ông nhắc lại. “Balon đã gục xuống, Balon anh trai ta, người tôn thờ Phong Tục Cũ và việc trả giá bằng sắt. Balon Dũng Cảm, Balon Phước Lành, Balon Tuyệt Đỉnh, người đem lại tự do cho chúng ta, giành lại vị thần của chúng ta. Balon đã chết… nhưng một vị vua sắt sẽ lại vùng dậy, để ngồi lên

chiếc Ngai Đá Biển và trị vì những hòn đảo này.”

“Vua Sắt sẽ vùng lên!” đám đông trả lời. “Ngài sẽ vùng lên!”

“Chắc chắn rồi. Ngài bắt buộc phải đứng lên.” Giọng Aeron ầm vang như sóng biển. “Nhưng Ngài là ai? Ai sẽ ngồi vào vị trí của Balon? Ai sẽ trị vì quần đảo thiêng liêng này? Ngài có ở đây trong số

chúng ta không?” Vị thầy tu dang rộng cánh tay. “Ai sẽ là nhà vua cai trị chúng ta?”

Một con mòng biển rít lên thay cho tiếng trả lời. Đám đông bắt đầu nhộn nhạo như những kẻ mới tỉnh giấc mơ. Mỗi người đều nhìn sang những kẻ xung quanh để xem ai sẽ liều mình giành vương miện. Mắt Quạ không bao giờ kiên nhẫn, Aeron Damphair tự nhủ. Có lẽ hắn ta sẽ nói đầu tiên. Nếu vậy, hắn sẽ gặp rắc rối to. Các thuyền trưởng và tiểu vương đã đi cả một quãng đường dài đến với bữa tiệc này

và sẽ không bao giờ chọn món đầu tiên được bê ra trước mặt. Họ sẽ muốn được nếm thử người này một chút, người kia một chút, cho đến khi họ tìm được người phù hợp với họ nhất.

Euron chắc chắn cũng hiểu điều này. Hắn đứng khoanh tay trước ngực giữa đám thủy thủ câm và lũ quái vật. Chỉ có tiếng gió và sóng biển đáp lại lời kêu gọi của Aeron.

“Những người sắt cần có một vị vua,” vị thầy tu nhấn mạnh sau một khoảng dài im lặng. “Ta hỏi một lần nữa. Ai sẽ là vua trị vì tất cả chúng ta?”

“Tôi,” câu trả lời từ bên dưới vọng lên.

Ngay lập tức tiếng hô vang “Gylbert! Vua Gylber!” vọng lên. Các thuyền trưởng nhường đường cho kẻ vừa lên tiếng và người của ông ta leo lên đồi đứng cạnh Aeron, bên dưới những chiếc xương

sườn của Nagga.

Kẻ tự xưng vương là một lãnh chúa gầy gò cao lớn với bộ mặt u sầu, chiếc cằm chìa ra phía trước được cạo nhẵn nhụi. Ba trợ thủ đứng sau ông ta hai bước, mang kiếm, khiên và cờ hiệu của ông. Ba người đó và vị lãnh chúa trông có nét tương đồng, nên Aeron cho rằng họ là cha con. Một người phất lá cờ mang hình một con thuyền đen lớn, đằng sau là mặt trời đang dần lặn. “Ta là Gylbert Farwynd,

lãnh chúa vùng Lonely Light,” vị lãnh chúa nói với đám đông.

Aeron biết một số người Nhà Farwynd, một đám người kỳ quặc sở hữu bờ biển cực tây của Great Wyk và một số hòn đảo rải rác quanh đó. Hầu hết chúng nhỏ đến nỗi không thể xây nổi một ngôi nhà. Tất nhiên Lonely Light ở xa nhất, cách đây tám ngày đi thuyền về phía bắc, giữa đám hải cẩu, hải sư

và biển đen bao la vô tận. Nhà Farwynd ở đó là những kẻ kỳ quặc hơn cả. Một số cho rằng họ là người đội lốt, những sinh vật xấu xa có thể xuất hiện dưới hình dạng sư tử biển, hải mã, thậm chí cá voi đốm và chó sói ở vùng biển hoang vu.

Lãnh chúa Gylbert bắt đầu nói. Ông ta kể về một miền đất kỳ lạ phía bên kia biển Sunset, một vùng đất không có mùa đông hay nghèo khó, nơi cái chết không có quyền thống trị. “Hãy để ta làm vua, và ta

sẽ dẫn các vị tới đó,” ông hô vang. “Chúng ta sẽ đóng một vạn con thuyền như Nymeria ngày xưa và đưa tất cả mọi người ra khơi, tới vùng đất bên kia chân trời. Ở đó, mỗi người đàn ông đều là một vị vua, và vợ anh ta là hoàng hậu.”

Aeron nhận thấy đôi mắt ông ta không phải màu xám, cũng không phải màu xanh, mà nó thay đổi

như màu của biển. Đôi mắt điên rồ, ông nghĩ, đôi mắt của kẻ ngu ngốc. Viễn cảnh ông ta nhắc đến rõ ràng là cạm bẫy mà Thần Bão Tố giăng ra để lừa gạt, tiêu diệt người sắt. Những lễ vật mà người của ông ta mang tới trong buổi bầu chọn vua là da hải cẩu, nanh hải mã, vòng tay làm từ hàm cá voi, tù và chiến trang trí vòng đồng. Các thuyền trưởng nhìn qua rồi quay đi, để cho cấp dưới nhận quà. Khi gã ngốc nói xong và các trợ thủ bắt đầu hô tên ông ta, chỉ có người Nhà Farwynd hô theo. Ông ta thậm chí không nhận được sự ủng hộ của tất cả mọi người trong gia tộc. Những tiếng hò reo “Gylbert! Vua Gylbert!” nhanh chóng tắt dần và chìm vào im lặng. Con mòng biển rít lên inh ỏi trên đầu họ và đậu xuống một trong những dẻ sườn của Nagga, trong khi vị lãnh chúa vùng Lonely Light lần bước xuống đồi.

Aeron Damphair bước lên trước một lần nữa. “Ta hỏi lại, ai sẽ là vua của chúng ta?”

“Ta!” Một giọng nói trầm trầm vang lên, và một lần nữa đám đông lại rẽ đôi.

Kẻ vừa hô vang được đưa lêи đỉиɦ đồi trên một chiếc ghế bằng gỗ trôi chạm trổ, khiêng bởi các cháu của ông ta. Ông già ở tuổi 90 nặng bằng hai mươi hòn đá tảng; ông khoác trên mình chiếc áo

choàng làm bằng da gấu trắng. Mái tóc ông ta cũng trắng như tuyết, và bộ râu xồm xoàm che kín người như một chiếc chăn phủ từ cằm xuống đến tận đùi. Vì thế, người ta khó lòng nhận ra đâu là râu, đâu là tấm áo choàng da gấu. Dù các cháu trai của ông đều là những thanh niên tráng kiện, nhưng họ vẫn phải đánh vật với sức nặng của ông trên những bậc thang bằng đá. Trước lâu đài của Vua Xám, họ đặt ông xuống và ba người trong số đó ở lại làm trợ thủ của ông.

Sáu mươi năm trước, có thể người đàn ông này sẽ được đám đông ủng hộ, Aeron thầm nghĩ, nhưng thời của ông ta đã qua lâu rồi.

“Đúng, ta!” Trên ghế, người đàn ông gầm lên, giọng ông ta như sấm vọng, đúng như thân hình đồ sộ của ông. “Tại sao không? Ai hơn ta được nữa? Ta là Erik Ironmaker, nếu kẻ mù mắt nào không biết.

Erik Công Minh. Erik Đập Vỡ Đe. Cho họ xem chiếc búa của ta đi, Thormor.” Một trong các trợ thủ của ông nâng nó lên cho tất cả cùng xem: một vật khổng lồ được bọc một nửa trong tấm da cũ, đầu của nó là một thỏi thép to như ổ bánh mỳ. “Ta không nhớ đã đập vỡ bao nhiêu cái sọ với chiếc búa này rồi,” Erik nói, “nhưng có thể một tên trộm nào đó sẽ nói cho các người biết. Ta cũng không nhớ đã nghiến nát bao nhiều cái đầu trên chiếc đe của ta, nhưng có thể góa phụ nào đó sẽ nhớ. Ta có thể kể cho các ngươi tất cả những chiến công ta giành được trên chiến trường, nhưng giờ ta đã 88 tuổi, và sẽ không sống đủ lâu để kể hết về những chiến công đó. Nếu tuổi tác làm người ta khôn ngoan hơn, thì không ai khôn ngoan bằng ta. Nếu to lớn nghĩa là mạnh mẽ, thì không ai mạnh mẽ hơn ta. Các người muốn một vị vua có người kế vị ư? Ta có nhiều tới mức không đếm nổi. Vua Erik, đúng vậy, ta thấy rất vừa tai. Nào, hãy hô vang cùng ta. ERIK! ERIK ĐẬP VỠ ĐE! VUA ERIK!”

Khi các cháu của ông ta hòa giọng hô vang, các con trai ông tiến lên với những chiếc rương trên vai. Khi họ mở chúng ra dưới chân những bậc thang bằng đá, một đống bạc, đồng và thép rơi ra; vòng

tay, vòng cổ, dao găm, đoản kiếm và rìu ném. Một số thuyền trưởng giật lấy những vật dụng tốt nhất và hòa giọng hô tên Erik. Nhưng tiếng hô mới nổi lên chưa được bao lâu thì một giọng phụ nữ đã cắt ngang. “Erik!” Mọi người tránh sang bên cho cô ta đi qua.

Với một chân đặt trên bậc thấp nhất, cô gái nói, “Erik, đứng dậy.”

Không gian bỗng im bặt. Gió thổi, sóng xô vào bờ, mọi người thì thầm vào tai nhau. Erik Ironmaker chằm chằm nhìn xuống Asha Greyjoy. “Cô gái. Con bé chết tiệt. Cô vừa nói gì?”

“Đứng lên, Erik,” cô gọi to. “Đứng lên và tôi sẽ hô tên ông với tất cả mọi người ở đây. Đứng lên và tôi sẽ là người đầu tiên ủng hộ ông. Ông muốn một chiếc vương miện ư? Được thôi, đứng lên và

nhận nó đi nào.”

Đâu đó trong đám đông, Mắt Quạ phá lên cười. Erik trừng mắt nhìn hắn. Đôi tay của người đàn ông to béo nắm chặt lại quanh thành ghế bằng gỗ trôi. Mặt ông ta đỏ ửng lên, sau đó chuyển sang màu tía. Hai cánh tay ông ta run lên vì gắng sức. Aeron trông thấy một mạch máu màu xanh đậm nổi lên trên cổ khi ông già cố đứng lên. Trong một khoảnh khắc, người ta đã tưởng ông có thể đứng dậy, nhưng ông

nhanh chóng hụt hơi và rêи ɾỉ ngồi phịch trở lại chiếc đệm của mình. Euron càng cười to hơn. Người đàn ông to lớn cúi đầu xấu hổ và trở nên già nua đúng như tuổi tác của mình, tất cả chỉ trong nháy mắt. Các cháu trai khiêng ông ta xuống chân đồi.

“Ai sẽ cai trị người sắt?” Aeron Damphair hỏi một lần nữa. “Ai sẽ là vua của chúng ta?”

Mọi người nhìn nhau. Một số người nhìn Euron, một số người nhìn Victarion, và vài người nhìn Asha. Những con sóng trắng xanh vỡ tung khi va vào đám thuyền dài. Tiếng mòng biển lại vang lên,

một tiếng thét khàn khàn nghe đìu hiu và cô độc. “Ngài tuyên bố đi, Victarion,” người Nhà Merlyn thúc giục. “Chúng ta hãy chấm dứt trò hề lố bịch này.”

“Khi nào ta sẵn sàng đã,” Victarion đáp.

Aeron tỏ ý hài lòng. Tốt nhất là anh ấy nên chờ đợi.

Tiếp theo là một người Nhà Drumm, một ông già nữa, mặc dù không quá già như Erik. Ông ta tự trèo được lên đồi, bên hông lủng lẳng thanh kiếm Mưa Đỏ trứ danh, được rèn từ thép Valyria trước khi

Ngày Tàn xảy đến. Các trợ thủ của ông cũng là những người có tiếng: các con trai ông Denys và Donnel, cả hai đều là chiến binh quả cảm, và giữa họ là Andrik Nghiêm Nghị, một gã khổng lồ với cánh tay to khỏe như thân cây. Nhà Drumm khá lợi thế khi được một người như vậy ủng hộ.

“Ai nói rằng vua của chúng ta bắt buộc phải là một kraken?” Drumm bắt đầu nói. “Pyke có quyền gì mà cai trị chúng ta? Great Wyk là hòn đảo lớn nhất, Harlaw giàu có nhất, Old Wyk linh thiêng nhất.

Khi dòng giống Black Harren bị thiêu trụi bởi ngọn lửa rồng, người sắt ưu tiên vị trí đứng đầu cho Vickon Greyjoy, đúng... nhưng là vị trí lãnh chúa, chứ không phải một vị vua.”

Đó có vẻ là một khởi đầu tốt đẹp. Aeron nghe thấy tiếng reo hò cổ vũ, nhưng chúng nhanh chóng lặng dần khi ông già bắt đầu kể về chiến công của Nhà Drumm. Ông ta kể về Dale Kinh Hãi, Roryn Tàn Phá, hàng trăm con trai của Bố Già Gormond Drumm. Ông ta tuốt thanh Mưa Đỏ ra và kể lể việc Hilmar Drumm Láu Cá đã chiếm được thanh gươm từ một hiệp sĩ khiên giáp đầy đủ bằng mưu mẹo và

một cái dùi cui gỗ như thế nào. Ông ta nói về những con thuyền đã mất từ lâu và các trận đánh đã bị lãng quên từ tám trăm năm trước. Đám đông bồn chồn sốt ruột. Ông ta tiếp tục nói, nói và nói.

Và khi những chiếc rương của Drumm được mở ra, các thuyền trưởng nhìn thấy những món quà của một kẻ hà tiện. Chẳng ai dùng đồng mà lại mua được ngai báu, Damphair nghĩ. Sự thật hiển nhiên

được chứng minh ngay sau đó, khi tiếng reo hò “Drumm! Drumm! Vua Dunstan!” lịm dần.

Aeron thấy cồn cào trong bụng, và với ông, có vẻ tiếng sóng biển nghe to và rõ hơn trước. Đã đến lúc, ông nghĩ. Đã đến lúc để Victarion lên giành lấy ngai vàng. “Ai sẽ là nhà vua của chúng ta?” Vị thầy tu hô thêm một lần nữa, nhưng lần này đôi mắt đen sôi sục của ông lần tìm người anh trai trong đám đông. “Chín người con trai được sinh ra bởi Quellon Greyjoy. Một người mạnh mẽ hơn tất cả

những người khác, và không biết sợ hãi là gì.” Victarion bắt gặp ánh mắt đó và khẽ gật đầu. Các thuyền trưởng tránh sang hai bên khi ông bước lên những bậc thang.

“Em trai, hãy làm lễ ban phước lành cho ta,” ông nói khi lên tới đỉnh đồi. Ông quỳ xuống và cúi đầu. Aeron mở nắp túi da và đổ một dòng nước biển lên đầu ông. “Những gì đã chết có thể không bao

giờ tàn lụi,” thầy tu nói, và Victarion trả lời, “mà sẽ tái sinh, cứng rắn và mạnh mẽ hơn.”

Khi Victarion đứng lên, các tùy tùng của ông cũng xếp hàng đứng phía sau: Ralf Tập Tễnh, Ralf Đỏ Nhà Stonehouse và Nute Thợ Cạo, tất cả đều là những chiến binh có tiếng. Stonehouse cầm lá cờ

của Nhà Greyjoy; thủy quái kraken màu vàng trên nền đen như biển đêm sâu thẳm. Ngay khi lá cờ được phất lên, các thuyền trưởng và tiểu vương bắt đầu hô to tên vị Hạm Đội Trưởng. Victarion chờ đến khi mọi người im lặng, rồi mới cất giọng nói, “Mọi người đều đã biết ta. Nếu các ngươi cần những lời lẽ ngọt ngào thì hãy đi tìm ở nơi khác. Ta không có giọng lưỡi của một ca sĩ. Ta có cây rìu, và ta có cái này.” Ông giơ hai bàn tay vĩ đại bọc trong giáp xích lên, còn Nute Thợ cạo giơ cao chiếc rìu, một cục thép đáng sợ. “Ta đã là một người em trung thành,” Victarion tiếp tục. “Khi Balon lấy vợ, chính ta là người được ông ấy cử đến Harlaw để đưa cô dâu về. Ta đã chỉ huy đoàn thuyền dài của ông ấy trong biết bao trận chiến, mà chỉ thua một trận duy nhất. Lần đầu tiên Balon đội vương miện, cũng chính ta là người dong thuyền tới Lannisport để thiêu cháy đuôi sư tử. Và một lần nữa, ông ấy lại cử ta đi lột da Sói Trẻ nếu hắn có ý định trở về nhà. Những gì các ngươi nhận được từ ta sẽ vượt xa những gì các ngươi đã nhận được từ Balon. Đó là tất cả những điều ta muốn nói.”

Sau đó, các tùy tùng của ông bắt đầu đồng thanh: “VICTARION! VICTARION! VUA VICTARION!” Phía dưới, người của ông đang đổ những chiếc rương của ông ra: vàng, bạc, châu báu, cả một gia tài kiếm được qua những trận cướp bóc rơi ra như thác. Các thuyền trưởng tranh nhau lấy

những món đồ đắt giá, vừa nhặt vừa hô vang, “VICTARION! VICTARION! VUA VICTARION!” Aeron quan sát Mắt Quạ. Hắn sẽ nhanh chóng lên tiếng, hay là để mặc cho buổi bầu chọn diễn ra? Orkwood vùng Orkmont đang thì thầm điều gì đó vào tai Euron.

Nhưng người chấm dứt tiếng reo hò lại không phải Euron, mà là một phụ nữ. Cô đưa hai ngón tay vào miệng và thổi, một âm thanh lanh lảnh chói tai cắt ngang những ồn ào huyên náo giống như con dao cắt qua một cục sữa đông. “Chú ơi! Chú ơi!” Cô cúi xuống nhặt lấy một chiếc vòng đeo cổ bằng vàng và bước nhanh lên những bậc thang. Nute giữ lấy cánh tay cô gái, và trong phút chốc Aeron đã tưởng

các trợ thủ của anh trai ông có thể làm cô cháu gái im miệng, nhưng Asha thoát được khỏi tay người Thợ Cạo và nói điều gì đó với Ralf Đỏ, khiến anh ta tránh sang một bên. Khi cô lách mình tiến lên, tiếng reo hò im bặt. Cô ấy là con gái Balon Greyjoy, và đám đông tò mò muốn nghe cô ấy nói.

“Chú thật tốt bụng khi đem những món quà này đến lễ bầu chọn nữ hoàng của cháu,” cô nói với Victarion, “nhưng chú không cần mặc nhiều giáp vậy đâu. Cháu hứa sẽ không làm chú bị thương.”

Asha quay về phía các thuyền trưởng. “Trên đời chẳng ai dũng cảm hơn chú của ta, không ai mạnh mẽ hơn, và không ai dữ tợn hơn ông ấy khi chiến đấu. Ông ấy có thể đếm đến mười nhanh như bất kỳ ai, chính mắt ta trông thấy… tuy nhiên để đếm đến hai mươi thì ông ấy phải cởi giày.” Đám đông rộ lên cười. “Ông ấy không có con trai. Các bà vợ của ông ấy cứ nối tiếp nhau qua đời. Mắt Quạ là anh trai nên có vị trí chính đáng hơn...”

“Đúng vậy!” Tay Chèo Tóc Đỏ từ dưới hô vọng lên.

“À, nhưng ta vẫn là người chính đáng nhất.” Asha đội tạm chiếc vòng cổ lên đầu, vàng sáng lấp lánh trên mái tóc đen của cô. “Em trai của Balon không thể xứng đáng hơn con trai của ông ấy được!”

“Các con trai của Balon đều đã chết,” Ralf Tập Tễnh nói to. “Tất cả những gì ta thấy là cô con gái bé nhỏ của Balon!”

“Con gái ư?” Asha luồn một tay vào bên trong chiếc áo da. “Ô hô! Cái gì đây? Ta có cần cho các ngươi xem không? Chắc một số người cũng lâu rồi chưa được nhìn thấy chúng kể từ khi cai sữa nhỉ.” Mọi người lại phá lên cười. “Vua mà có vυ" thì thật là kinh khủng, đó có phải một bài hát không? Ralf, ngươi nói đúng, ta là phụ nữ... nhưng không phải là một bà già như ngươi. Ralf Tập Tễnh... gọi là Ralf Mềm Oặt có khi hợp hơn đấy!” Asha rút con dao ra từ ngực. “Ta cũng là một người mẹ, và đây là đứa bé đang bú mẹ của ta!” Cô giơ con dao lên. “Và đây là các trợ thủ của ta.” Bọn họ lách qua ba trợ thủ của Victarion và đứng phía dưới cô: Qarl Thiếu Nữ, Tristifer Botley, và Ser Harras Harlaw Hiệp Sĩ, người có thanh kiếm Hoàng Hôn cũng nổi tiếng ngang với thanh Mưa Đỏ của Dunstan Drumm. “Chú ta nói các ngươi đã biết ông ấy. Các ngươi cũng đã biết về ta…”

“Ta muốn tìm hiểu về cô nhiều hơn!” Ai đó hét.

“Về nhà mà tìm hiểu vợ ngươi ấy,” Asha đáp lại. “Chú ta nói sẽ cho các ngươi nhiều hơn những gì cha ta đã cho. Ồ, vậy đó là cái gì? Vàng và danh tiếng, ai đó sẽ nói như vậy. Tự do ư, rất ngọt ngào.

Vâng, đúng thế… nhưng ông ấy còn cho chúng ta cả các góa phụ, giống như những gì Lãnh chúa Blacktyde sẽ kể với các ngươi. Bao nhiêu người trong số các ngươi nhà cửa bị thiêu rụi khi Robert tới? Bao nhiêu người có con gái bị hãʍ Ꮒϊếp và tước đoạt? Thành phố tro tàn và lâu đài đổ vỡ, đó là những gì cha ta đã cho các ngươi. Thất bại là những gì ông ấy đã cho các ngươi. Chú ta sẽ cho các ngươi nhiều hơn thế nữa. Nhưng ta thì không.”

“Vậy cô sẽ cho chúng tôi thứ gì?” Lucas Codd hỏi. “Đan lát chăng?”

“Đúng, Lucas. Ta sẽ đan chặt mọi người thành một vương quốc thống nhất.” Cô tung con dao từ tay này qua tay kia. “Chúng ta cần rút ra bài học từ sự việc của Sói Trẻ, kẻ chiến thắng trong mọi trận

chiến… nhưng lại mất tất cả.”

“Sói không phải là kraken,” Victarion phản đối. “Kraken không bao giờ để mất những gì mình giành được, dù đó là thuyền dài hay một con thủy quái.”

“Và chúng ta đã giành được gì, thưa chú? Phương bắc ư? Đó là gì vậy, nếu không phải là một nơi cách xa sóng biển của ta hàng ngàn, hàng ngàn, hàng ngàn dặm. Chúng ta đã chiếm được Moat Cailin, Deepwood Motte, Torrhen’s Square, thậm chí là Winterfell. Nhưng chúng ta có gì để chứng minh điều

đó?” Cô vẫy tay ra hiệu, và người trên con thuyền Gió Đen của cô tiến lên, trên vai là những chiếc rương đựng gỗ sồi và sắt. “Ta sẽ cho các ngươi sự giàu có của bờ biển Stony,” Asha nói khi chiếc rương đầu tiên được mở ra. Một cơn mưa sỏi lạch cạch rơi và lăn xuống bậc thềm; những viên sỏi xám, đen và trắng được nước biển bào nhẵn mịn. “Ta sẽ cho các ngươi sự giàu có của Deepwood,” cô nói khi chiếc rương thứ hai được mở ra. Những quả thông tràn ra ngoài, lăn tròn và nảy xuống chỗ đám đông. “Và cuối cùng là vàng của Winterfell.” Trong chiếc rương thứ ba là những củ cải vàng tròn, cứng và to như đầu người. Chúng nằm giữa đống quả thông và những viên đá sỏi. Asha đâm một củ cải bằng dao găm. “Harmund Sharp,” cô gọi to, “con trai Harrag của ông đã chết ở Winterfell, cũng vì điều này.” Cô rút củ cải ra khỏi lưỡi dao và ném nó cho ông ta. “Ta nghĩ ông còn những người con trai khác. Nếu ông muốn đổi mạng sống của chúng lấy những củ cải này, hãy cứ hô tên chú của ta!”

“Còn nếu ta hô tên cô?” Harmund hỏi. “Thì sẽ thế nào?”

“Hòa bình,” Asha nói. “Đất đai. Chiến thắng. Ta sẽ cho các người biển Mũi Rồng và bờ biển Stony, đất đai, cây cối và sỏi đá đủ để mọi người con đều có thể xây lâu đài cho riêng mình. Chúng ta

sẽ có phương bắc… như những người bạn, những người sẽ đứng cạnh chúng ta chống lại Ngai Sắt.

Lựa chọn dành cho các người đơn giản thôi. Ủng hộ ta để có hòa bình và chiến thắng. Hoặc ủng hộ chú ta, để tiếp tục chiến tranh và tiếp tục thất bại.” Cô tra dao vào vỏ một lần nữa. “Các người sẽ chọn gì đây, hỡi những người sắt?”

“CHIẾN THẮNG!” Rodrik Mọt Sách hô vang, hai tay anh ta chụm lại quanh miệng. “Chiến thắng, và Asha!”

“ASHA!” Lãnh chúa Baelor Blacktyde hô theo. “Nữ hoàng ASHA!”

Các thủy thủ của Asha cũng hô theo. “ASHA! ASHA! Nữ hoàng ASHA!” Họ dậm chân, giơ nắm đấm và gào thét, trong khi Damphair lắng nghe với vẻ hoài nghi. Con bé sẽ bỏ dở nguyện ước của cha

mình! Vậy mà Tristifer Botley đang hét tên cô ta, cả rất nhiều người Nhà Harlaw, vài người Nhà Goodbrother và Lãnh chúa Merlyn Mặt Đỏ nữa, nhiều hơn những gì vị thầy tu tưởng tượng… đối với một phụ nữ!

Nhưng những người khác đều lặng im, hoặc là lầm bầm với người bên cạnh. “Đầu hàng sao có thể gọi là hòa bình được!” Ralf Tập Tễnh gầm lên. Ralf Đỏ Nhà Stonehouse xoay lá cờ của Greyjoy và rống lên, “Victarion! VICTARION! VICTARION!” Mọi người bắt đầu xô đẩy nhau. Một số người ném quả thông vào đầu Asha. Khi cô cúi đầu xuống né, chiếc vương miện giả trên đầu cô rơi xuống. Trong chốc lát, vị thầy tu tưởng như mình đang đứng trên một ụ kiến lớn, với hàng ngàn con kiến đang sôi lên

dưới chân ông.

Tiếng hét “Asha!” và “Victarion!” thay nhau nổi lên như thể một cơn cuồng phong nào đó đang chuẩn bị nuốt chửng tất cả bọn họ. Thần Bão Tố đang ở đây giữa chúng ta, đang gieo những cơn giận

dữ và những mối bất hòa, vị thầy tu thầm nghĩ.

Rồi đột nhiên, sắc như một nhát đâm, tiếng tù và xé toạc bầu không khí.

Âm thanh của nó chói lọi và độc địa, một tiếng thét rùng mình khiến xương cốt con người như rung lên bần bật. Tiếng rít cứ vương vất trong không gian ẩm ướt của biển khơi: aaaaRREEEEeeeeeeeeeee.

Mọi con mắt đổ dồn về nơi âm thanh phát ra. Đó là một trong những người lai của Euron, một gã đàn ông khổng lồ với cái đầu trọc lốc. Những chiếc vòng màu vàng, ngọc bích và đen huyền sáng lấp

lánh trên cánh tay hắn, và trên khuôn ngực rộng của hắn thêu hình một con chim đang săn mồi với những móng vuốt nhỏ máu.

aaaaRRREEEEeeeeeeeeeeeee.

Chiếc tù và hắn đang thổi có màu đen bóng, vặn xoắn và cao hơn đầu người nên hắn phải giữ bằng cả hai tay. Nó được nẹp bằng những chiếc đai bằng vàng đỏ và kim loại đen, bên trên chạm khắc các

họa tiết Valyria cổ đại. Có vẻ khi tiếng tù và càng ngân cao, những cái đai càng sáng lên đỏ rực.

aaaaaaaRRREEEEEEEEEEEEeeeeeeeeeeeeeeeeeeee.

Thứ âm thanh khủng khϊếp đó nghe như tiếng than khóc trong đau đớn và tức giận, đến mức tưởng như đốt cháy tai người nghe. Aeron Damphair bịt tai và cầu nguyện Thần Chết Chìm, xin ngài dâng

sóng dữ nhấn chìm âm thanh của chiếc tù và đó, thế nhưng tiếng kêu chói tai vẫn rít lên không dứt. Đó là chiếc tù và địa ngục, ông muốn hét lên, nhưng sẽ chẳng ai nghe tiếng. Hai má của gã xăm mình phồng lên như sắp nổ, các cơ bắp trên ngực hắn cũng co lại, khiến con chim trông như chuẩn bị thoát ra và đập cánh bay đi. Và giờ những hình chạm khắc trang trí đang cháy rực, từng đường kẻ và con chữ sáng lên trong ngọn lửa màu trắng nhợt. Âm thanh cứ rít lên mãi, vang vọng khắp núi đồi hoang dại phía sau, lan trên mặt nước vịnh Cái Nôi của Nagga và dội lên dãy núi Great Wyk, cứ thế, cứ thế cho đến khi tiếng tù và tràn ngập khắp không gian ướŧ áŧ.

Và khi âm thanh tưởng chừng như không bao giờ dứt, nó đột ngột dừng lại.

Kẻ thổi tù và cuối cùng cũng đã hết hơi. Hắn loạng choạng suýt ngã. Vị thầy tu nhìn thấy Orkwood vùng Orkmont giữ lấy cánh tay và kéo hắn đứng dậy, trong khi Lucas Codd Tay Trái lấy lại chiếc tù và màu đen từ tay hắn. Một vệt khói mỏng bay lên từ chiếc tù và, và vị thầy tu nhìn thấy máu và vết bỏng giộp trên môi người vừa thổi nó. Con chim trên ngực hắn cũng đang chảy máu.

Euron Greyjoy chậm rãi leo lên đồi, mọi con mắt đổ dồn vào hắn. Trên đầu, mòng biển vẫn rít lên những tiếng chói tai. Không kẻ vô thần nào được ngồi lên chiếc Ngai Đá Biển, Aeron thầm nghĩ, nhưng

ông biết ông phải để anh trai mình lên tiếng. Môi ông mấp máy cầu nguyện.

Các trợ thủ của Asha bước sang một bên, và cả các trợ thủ của Victarion cũng vậy. Vị thầy tu lùi lại một bước và đặt một tay lên dẻ sườn bằng đá thô nhám và lạnh lẽo của Nagga. Mắt Quạ dừng lại trên đỉnh bậc thang, ngay tại cửa vào lâu đài của Vua Xám và nhìn các thuyền trưởng và tiểu vương với một bên mắt cười, nhưng Aeron có thể cảm nhận được cả mắt bên kia của hắn ta, bên mắt mà hắn đã che đi.

“NGƯỜI SẮT,” Euron Greyjoy nói, “các ngươi đã nghe thấy tiếng tù và của ta. Giờ hãy nghe những lời ta nói. Ta là em trai của Balon, là anh cả trong số các con trai của Quellon hiện đang còn

sống. Dòng máu của Lãnh chúa Vickon đang chảy trong huyết quản của ta, và cả dòng máu của Kraken cổ đại. Nhưng ta đã ra khơi và đi xa hơn bất cứ ai trong số họ. Chỉ có một kraken duy nhất chưa biết đến mùi thất bại. Kẻ duy nhất chưa bao giờ quỳ gối. Kẻ duy nhất đã tới Asshai vùng đất Bóng Tối và chứng kiến những kỳ quan, những nỗi kinh hoàng hơn cả trong tưởng tượng của chúng ta...”

“Nếu ông thích vùng đất Bóng Tối đến vậy thì hãy quay lại đó đi,” Qarl Thiếu Nữ má hồng, một trong các trợ thủ của Asha lên tiếng.

Mắt Quạ không mảy may để tâm đến hắn. “Em trai nhỏ của ta sẽ kết thúc cuộc chiến của Balon và chiếm được miền bắc. Còn cháu gái yêu quý của ta sẽ cho chúng ta hòa bình.” Đôi môi xanh của hắn nhếch lên thành một nụ cười. “Asha thích chiến thắng hơn là thất bại. Victarion muốn có một vương quốc thay vì vài mảnh đất nhỏ nhoi. Còn ta, ta sẽ cho các ngươi cả hai.”

“Các ngươi gọi ta là Mắt Quạ. Phải, làm gì có đôi mắt nào tinh tường hơn mắt quạ? Sau mỗi trận chiến, bầy quạ lại tới mở tiệc trên xác những kẻ bại trận. Một con quạ có thể nhận thấy cái chết từ xa. Và ta nói rằng Westeros đang chết dần. Những kẻ đi theo ta sẽ được hưởng một bữa tiệc lớn đến tận

cuối đời.”

“Chúng ta là người sắt, và trước kia chúng ta là những kẻ chinh phạt. Ở đâu có sóng biển là ở đó có chữ viết của chúng ta. Em trai ta sẽ bắt các ngươi hài lòng với miền bắc lạnh lẽo hoang vu, cháu gái ta thậm chí còn không được như thế… nhưng ta sẽ cho các ngươi Lannisport. Highgarden. Arbor. Oldtown. Vùng đất ven sông và vùng Reach, rừng vương, rừng mưa, Dorne và các vùng giáp ranh, núi Mặt Trăng và thung lũng Arryn, Tarth và Stepstones. Ta nói rằng chúng ta sẽ chiếm tất cả! Ta nói rằng,

chúng ta sẽ chiếm Westeros.” Hắn liếc nhìn vị thầy tu. “Giành tất cả và đem về vinh quang lớn hơn cho Thần Chết Chìm của chúng ta, chắc chắn rồi.”

Trong khoảnh khắc, ngay cả Aeron cũng sững người vì những lời táo bạo đó. Vị thầy tu đã mơ một giấc mơ y hệt, trong đó, đầu tiên ông nhìn thấy một ngôi sao chổi màu đỏ trên bầu trời. Chúng ta sẽ quét sạch đất liền với lửa và gươm, nhổ tận gốc Thất Diện Thần của các tu sĩ và đám cây trắng của

người phương bắc...

“Mắt Quạ,” Asha gọi to, “chú để trí khôn của mình lại Asshai rồi sao? Nếu chúng ta không giữ nổi phương bắc – và sự thật là chúng ta không thể nào giữ nổi – thì làm sao chúng ta chiếm được cả Bảy

Phụ Quốc đây?”

“Tại sao? Việc này chẳng phải đã từng xảy ra rồi sao? Balon không dạy con gái mình về chiến tranh ư? Victarion, hình như con gái của ông anh chúng ta chưa bao giờ được nghe về Nhà Chinh Phạt

Aegon thì phải.”

“Aegon?” Victarion khoanh tay trước ngực. “Nhà Chinh Phạt thì liên quan gì đến chúng ta?”

“Cháu cũng biết về chiến tranh nhiều không kém gì chú cả, Mắt Quạ ạ,” Asha nói. “Aegon Targaryen chiếm được Westeros với sự trợ giúp của những con rồng.”

“Và chúng ta cũng sẽ như vậy,” Euron Greyjoy hứa hẹn. “Chiếc tù và mà cháu vừa nghe, ta tìm thấy trong đám bụi khói đổ nát ở Valyria, nơi trừ ta ra không ai dám tới. Cháu đã được nghe âm thanh của nó, và cảm nhận sức mạnh của nó. Đó là tù và gọi rồng, được trang trí với những chiếc đai bằng

vàng đỏ và thép Valyria chạm khắc. Các lãnh chúa rồng ngày xưa dùng nó để gọi rồng trước Ngày Tàn. Với chiếc tù và này, hỡi các cư dân Quần Đảo Iron, ta có thể gọi được lũ rồng theo ý muốn.”

Asha cười lớn. “Còi đó dùng để gọi dê thì có ích hơn đấy, Mắt Quạ. Trên đời không còn con rồng nào nữa.”

“Cháu gái, cháu lại sai rồi. Có ba con rồng, và ta biết phải tìm chúng ở đâu. Tất nhiên thông tin đó phải đáng giá chiếc vương miện gỗ trôi rồi.”

“EURON!” Lucas Codd Tay Trái hô vang.

“EURON! MẮT QUẠ! EURON!” Tay Chèo Tóc Đỏ cũng hô vang.

Các thủy thủ câm và con lai trên con thuyền Im Lặng mở toang những chiếc rương của Euron và đổ các món quà của ông ta ra trước các thuyền trưởng và các tiểu vương. Sau đó là tiếng hô của tu sĩ

Hotho Harlaw, kẻ đang cầm vàng ngập tay. Gorold Goodbrother cũng hét lên, và cả Erik Đập Vỡ Đe cũng vậy. “EURON! EURON! EURON!” Âm thanh vang dội nghe như tiếng gầm rống. “EURON!

EURON! MẮT QUẠ! VUA EURON!” Tiếng hô bay lên đồi Nagga, như thể Thần Bão Tố đang rung chuyển những đám mây. “EURON! EURON! EURON! EURON! EURON! EURON!”

Đến một thầy tu cũng có lúc hồ nghi. Đến một nhà tiên tri cũng có khi sợ hãi. Aeron Damphair tìm đến vị thần của mình nhưng chỉ thấy sự im lặng. Hàng ngàn giọng nói tung hô tên anh trai ông, nhưng tất

cả những gì ông nghe được chỉ là tiếng kẽo kẹt của chiếc bản lề gỉ sét.