Chương 21: Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ♦ Quyển 7

☸ PHẨM 24: DIỆU ÂM BỒ-TÁT☸ PHẨM 25: QUÁN THẾ ÂM BỒ-TÁT PHỔ MÔN☸ PHẨM 26: TỔNG TRÌ☸ PHẨM 27: BỔN SỰ CỦA VUA DIỆU TRANG NGHIÊM☸ PHẨM 28: PHỔ HIỀN BỒ-TÁT KHUYẾN PHÁT

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ♦ Quyển 7

☸ PHẨM 24: DIỆU ÂM BỒ-TÁT

Lúc bấy giờ Đức Phật Năng Tịch phóng quang minh từ đỉnh nhục kế, là tướng của bậc đại nhân, và phóng ra ánh sáng từ tướng bạch hào ở giữa đôi chân mày. Hào quang đó chiếu khắp 1.080.000 ức nayuta [na du ta] Hằng Hà sa thế giới của chư Phật ở phương đông.

Vượt qua số thế giới này có một thế giới tên là Tịnh Quang Trang Nghiêm. Quốc độ ấy có một Đức Phật, hiệu là Tịnh Hoa Tú Vương Trí Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Có vô lượng vô biên Bồ-tát đại chúng đang cung kính vây quanh và Ngài thuyết Pháp cho họ. Khi ấy, ánh sáng bạch hào của Đức Phật Năng Tịch chiếu soi khắp cõi nước kia.

Lúc bấy giờ trong quốc độ Nhất Thiết Tịnh Quang Trang Nghiêm có một vị Bồ-tát tên là Diệu Âm. Từ xưa ngài đã gieo trồng căn lành, thân cận cúng dường vô lượng tỷ ức chư Phật và thành tựu được trí tuệ thâm sâu.

Ngài đã đắc:

- Diệu Tràng Tướng Chính Định,

- Pháp Hoa Chính Định,

- Tịnh Đức Chính Định,

- Tú Vương Hí Chính Định,

- Vô Duyên Chính Định,

- Trí Ấn Chính Định,

- Giải Nhất Thiết Chúng Sinh Ngữ Ngôn Chính Định,

- Tập Nhất Thiết Công Đức Chính Định,

- Thanh Tịnh Chính Định,

- Thần Thông Du Hí Chính Định,

- Tuệ Cự Chính Định,

- Trang Nghiêm Vương Chính Định,

- Tịnh Quang Minh Chính Định,

- Tịnh Tạng Chính Định,

- Bất Cộng Chính Định,

- Nhật Toàn Chính Định.

Ngài đã đắc các đại chính định như thế, nhiều như số cát trong một tỷ ức sông Hằng.



Khi hào quang của Đức Phật Năng Tịch chiếu đến thân, ngài liền thưa với Đức Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí rằng:

"Thưa Thế Tôn! Con nên đi đến Thế giới Kham Nhẫn để lễ bái, thân cận, và cúng dường Đức Phật Năng Tịch cùng thấy được Diệu Cát Tường Pháp Vương Tử Bồ-tát, Dược Vương Bồ-tát, Dũng Thí Bồ-tát, Tú Vương Hoa Bồ-tát, Thượng Hành Ý Bồ-tát, Trang Nghiêm Vương Bồ-tát, và Dược Thượng Bồ-tát."

Lúc bấy giờ Đức Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí bảo Diệu Âm Bồ-tát rằng:

"Ông chớ khinh cõi nước kia và nghĩ rằng nó thấp kém.

Thiện nam tử! Thế giới Kham Nhẫn kia có chỗ cao chỗ thấp và không bằng phẳng. Có đất, đá, núi non, và tràn đầy các đồ dơ bẩn cùng những việc xấu ác. Thân Phật bé nhỏ và thân hình của chư Bồ-tát cũng nhỏ. Còn thân ông cao 42.000 yojana [dô cha na], và thân Ta cao 6,8 triệu yojana. Thân của ông đoan chính đệ nhất với một tỷ phúc trang nghiêm và quang minh thù diệu. Cho nên khi đến nơi đó, ông chớ khinh khi và sinh ý tưởng thấp kém đối với cõi nước kia cùng Phật và chư Bồ-tát ở quốc độ ấy."

Diệu Âm Bồ-tát thưa với Đức Phật kia rằng:

"Thưa Thế Tôn! Bây giờ con sẽ đi đến Thế giới Kham Nhẫn bằng vào uy lực của Như Lai, thần thông du hí của Như Lai, và công đức trí tuệ trang nghiêm của Như Lai."

Khi ấy, thân của Diệu Âm Bồ-tát chẳng dao động, không rời khỏi chỗ ngồi và nhập chính định. Bằng với sức chính định, ngài đi đến núi Thứu Phong cách Pháp tòa không xa. Rồi biến hóa ra 84.000 hoa sen báu, với cọng làm bằng vàng ở dưới sông tại châu Thắng Kim, bạc trắng làm lá, kim cang làm nhụy, và ngọc xích bảo làm cuống.



Khi Diệu Cát Tường Pháp Vương Tử thấy những hoa sen này, ngài bạch Phật rằng:

"Bạch Thế Tôn! Vì nhân duyên gì mà hiện ra điềm tướng này, có vài nghìn vạn hoa sen với cọng làm bằng vàng ở dưới sông tại châu Thắng Kim, bạc trắng làm lá, kim cang làm nhụy, và ngọc xích bảo làm cuống?"

Lúc bấy giờ Đức Phật Năng Tịch bảo ngài Diệu Cát Tường:

"Đây là do Diệu Âm Đại Bồ-tát từ quốc độ của Đức Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí, ngài với 84.000 Bồ-tát đang vây quanh Đức Phật kia, họ muốn đến Thế giới Kham Nhẫn này để cúng dường, thân cận, và lễ bái Ta. Lại cũng muốn cúng dường và nghe Kinh Pháp Hoa."

Ngài Diệu Cát Tường bạch Phật rằng:

"Bạch Thế Tôn! Vị Bồ-tát đó đã gieo trồng căn lành và tu công đức gì mà có sức đại thần thông này? Ngài đã tu hành chính định gì? Ngưỡng mong Thế Tôn nói các danh tự của chính định ấy cho chúng con. Chúng con cũng muốn siêng tu hành các chính định ấy để có thể thấy sắc tướng, dáng vóc, và uy nghi lúc đến đi của vị Bồ-tát này.

Kính mong Thế Tôn hãy dùng sức thần thông để khiến chúng con thấy được khi vị Bồ-tát kia đến."

Lúc bấy giờ Đức Phật Năng Tịch bảo ngài Diệu Cát Tường:

"Đức Phật Đa Bảo đã diệt độ từ lâu, sẽ vì các ông mà hiện ra các tướng đó."

Khi ấy Đức Phật Đa Bảo nói với vị Bồ-tát kia rằng:

"Thiện lai, thiện nam tử! Diệu Cát Tường Pháp Vương Tử muốn thấy thân ông."

Diệu Âm Bồ-tát liền biến mất ở cõi nước kia và cùng 84.000 Bồ-tát đồng khởi hành. Các quốc độ đi qua thảy đều chấn động sáu cách, mưa xuống hoa sen bảy báu và trăm nghìn loại âm nhạc cõi trời không cần khảy mà tự vang.

Mắt của vị Bồ-tát này rộng lớn như cánh sen xanh. Dẫu cho cả một tỷ mặt trăng hợp lại thì cũng không vượt hơn diện mạo đoan chính của ngài. Thân có màu sắc vàng ròng và trang nghiêm với vô lượng trăm nghìn công đức. Uy đức hiển hách, quang minh chiếu sáng, đầy đủ mọi tướng và thân kiên cố như Nhân Sinh Bổn Thiên.

Khi ấy ngài vào đài bảy báu và bay lên hư không cách mặt đất với độ cao bằng bảy cây cọ, cùng với chư Bồ-tát cung kính vây quanh và đi đến núi Thứu Phong ở Thế giới Kham Nhẫn. Lúc đến nơi, ngài bước xuống đài bảy báu và cầm xâu chuỗi anh lạc với trị giá hàng trăm nghìn lượng vàng.

Sau đó, ngài đi đến chỗ của Đức Phật Năng Tịch, cúi đầu đỉnh lễ với trán chạm sát chân của Phật, rồi dâng lên xâu chuỗi anh lạc và thưa với Phật rằng:

"Thưa Thế Tôn! Đức Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí thăm hỏi Thế Tôn không có bệnh và không có phiền não chứ? Đi đứng có nhẹ nhàng chăng? Hạnh làm có an lạc chăng? Bốn đại có điều hòa chăng? Thế sự có thể nhẫn chăng? Chúng sinh có dễ độ, ít tham dục, sân hận, si mê, ganh ghét, keo kiệt, và ít khinh mạn chăng? Có ai bất hiếu với cha mẹ, chẳng kính trọng Đạo Nhân, tà kiến, tâm bất thiện và không thu nhϊếp tình thức của năm căn chăng?

Thưa Thế Tôn! Chúng sinh có thể hàng phục chúng ma oán chăng? Đức Phật Đa Bảo đã diệt độ từ lâu đang ở trong tháp bảy báu có đến nghe Pháp chăng?"

Rồi ngài cũng lại thăm hỏi về Đa Bảo Như Lai có được an ổn, không phiền não, và kham nhẫn cửu trụ chăng?

"Thưa Thế Tôn! Con nay muốn thấy Đức Phật Đa Bảo. Kính mong Thế Tôn hãy làm cho con trông thấy."

Lúc bấy giờ Đức Phật Năng Tịch nói với Đức Phật Đa Bảo rằng:

"Diệu Âm Bồ-tát này muốn được thấy Ngài."

Khi ấy Đa Bảo Như Lai bảo Diệu Âm Bồ-tát rằng:

"Lành thay, lành thay! Ông vì cúng dường Đức Phật Năng Tịch, muốn nghe Kinh Pháp Hoa, cùng muốn thấy Diệu Cát Tường Bồ-tát và các vị khác nên mới đến đây."

Lúc bấy giờ Hoa Đức Bồ-tát bạch Phật rằng:

"Bạch Thế Tôn! Vị Diệu Âm Bồ-tát này đã gieo trồng căn lành và tu công đức gì mà có thần lực như thế?"



Phật bảo Hoa Đức Bồ-tát:

"Vào thuở quá khứ có Đức Phật hiệu là Vân Lôi Âm Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chính Đẳng Chính Giác. Quốc độ tên là Hiện Nhất Thiết Thế Gian. Kiếp tên là Hỷ Kiến. Suốt 1.200 năm, Diệu Âm Bồ-tát đã dùng trăm nghìn loại âm nhạc để cúng dường Đức Phật Vân Lôi Âm Vương và cũng dâng lên 84.000 bình bát bảy báu. Do quả báo của nhân duyên đó nên nay sinh ở cõi nước của Đức Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí và có thần lực như thế.

Này Hoa Đức! Ý ông nghĩ sao?

Diệu Âm Bồ-tát đã cúng dường âm nhạc và dâng lên bình bát báu cho Đức Phật Vân Lôi Âm Vương thuở đó nào có ai khác, nay chính là Diệu Âm Đại Bồ-tát.

Này Hoa Đức! Diệu Âm Bồ-tát đã từng cúng dường và thân cận vô lượng chư Phật. Từ xưa đã gieo trồng căn lành và lại gặp Hằng Hà sa tỷ ức nayuta chư Phật.

Này Hoa Đức! Ông chỉ thấy thân của Diệu Âm Bồ-tát đang ở tại nơi đây. Nhưng vị Bồ-tát này hóa hiện đủ mọi thân hình ở khắp nơi để thuyết giảng Kinh điển này cho các chúng sinh.

- Hoặc hiện thân Phạm Vương;

- Hoặc hiện thân Năng Thiên Đế;

- Hoặc hiện thân Tự Tại Thiên;

- Hoặc hiện thân Đại Tự Tại Thiên;

- Hoặc hiện thân thiên đại tướng quân;

- Hoặc hiện thân Đa Văn Thiên Vương;

- Hoặc hiện thân Chuyển Luân Thánh Vương;

- Hoặc hiện thân tiểu vương;

- Hoặc hiện thân trưởng giả;

- Hoặc hiện thân cư sĩ;

- Hoặc hiện thân tể quan;

- Hoặc hiện thân Phạm Chí;

- Hoặc hiện thân Bhikṣu [bíc su], Bhikṣuṇī [bíc su ni], Thanh Tín Nam, Thanh Tín Nữ;

- Hoặc hiện thân phu nhân của trưởng giả hay cư sĩ;

- Hoặc hiện thân phu nhân của tể quan;

- Hoặc hiện thân phu nhân của Phạm Chí;

- Hoặc hiện thân đồng nam, đồng nữ;

- Hoặc hiện thân trời, rồng, quỷ tiệp tật, tầm hương thần, phi thiên, kim sí điểu, nghi thần, đại mãng xà, người và phi nhân mà thuyết giảng Kinh này.

Ở những nơi có địa ngục, ngạ quỷ, bàng sinh cùng các chướng nạn, ngài đều có thể cứu hộ. Cho đến trong hậu cung của vua, ngài cũng có thể biến hiện thân nữ mà thuyết giảng Kinh này.

Này Hoa Đức! Diệu Âm Bồ-tát có thể cứu hộ hết thảy chúng sinh ở Thế giới Kham Nhẫn. Diệu Âm Bồ-tát này có thể biến hóa đủ mọi thân hình như thế. Ngài ở tại Thế giới Kham Nhẫn thuyết giảng Kinh điển này cho các chúng sinh mà thần thông biến hóa và trí tuệ chẳng hề tổn giảm.

Ánh sáng trí tuệ của vị Bồ-tát này chiếu soi Thế giới Kham Nhẫn, khiến tất cả mỗi chúng sinh được sự hiểu biết của mình. Trong các thế giới nhiều như cát sông Hằng ở mười phương cũng lại như vậy.

Nếu đáng dùng thân Thanh Văn để hóa độ, ngài liền hiện thân Thanh Văn mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân Độc Giác để hóa độ, ngài liền hiện thân Độc Giác mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân Bồ-tát để hóa độ, ngài liền hiện thân Bồ-tát mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân Phật hóa độ, ngài liền hiện thân Phật mà thuyết Pháp cho họ.

Và như vậy, ngài dùng đủ mọi thân hình mà tùy cơ hóa độ, cho đến nếu cần hiện diệt độ để độ thoát, sẽ liền thị hiện diệt độ.

Này Hoa Đức! Diệu Âm Đại Bồ-tát thành tựu sức đại thần thông và trí tuệ, việc đó là như vậy."



Lúc bấy giờ Hoa Đức Bồ-tát bạch Phật rằng:

"Bạch Thế Tôn! Vị Diệu Âm Bồ-tát này đã gieo trồng căn lành rất sâu dày.

Bạch Thế Tôn! Vị Bồ-tát này đã trụ chính định gì mà có thể biến hiện để độ thoát chúng sinh như thế?"

Phật bảo Hoa Đức Bồ-tát:

"Thiện nam tử! Chính Định đó tên là Hiện Nhất Thiết Sắc Thân. Diệu Âm Bồ-tát trụ trong chính định này nên mới có thể làm lợi ích vô lượng chúng sinh như thế."

Khi thuyết Phẩm Diệu Âm Bồ-tát này, 84.000 vị tùy tùng với Diệu Âm Bồ-tát đều đắc Hiện Nhất Thiết Sắc Thân Chính Định. Vô lượng Bồ-tát ở Thế giới Kham Nhẫn cũng đắc chính định và tổng trì đó.

Khi Diệu Âm Đại Bồ-tát đã cúng dường Đức Phật Năng Tịch cùng tháp của Đức Phật Đa Bảo xong, ngài trở về cõi nước của mình. Các cõi nước đi qua đều chấn động sáu cách, mưa xuống hoa sen báu và vang lên trăm nghìn loại âm nhạc.

Khi đã trở về cõi nước của mình, cùng với 84.000 Bồ-tát vây quanh, ngài đi đến chỗ của Đức Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí và thưa với Phật rằng:

"Thưa Thế Tôn! Con đã đến Thế giới Kham Nhẫn để làm lợi ích cho chúng sinh. Con diện kiến Đức Phật Năng Tịch cùng thấy tháp của Đức Phật Đa Bảo, rồi đã lễ bái và cúng dường. Con cũng lại thấy Diệu Cát Tường Pháp Vương Tử Bồ-tát, Dược Vương Bồ-tát, Đắc Cần Tinh Tấn Lực Bồ-tát, Dũng Thí Bồ-tát, và những vị khác. Con cũng lại khiến cho 84.000 Bồ-tát nơi đây đắc Hiện Nhất Thiết Sắc Thân Chính Định."

Khi đã thuyết Phẩm Diệu Âm Bồ-tát từ lúc đến và lúc trở về xong, 42.000 thiên tử đắc Vô Sinh Pháp Nhẫn. Hoa Đức Bồ-tát đắc Pháp Hoa Chính Định.

☸ PHẨM 25: QUÁN THẾ ÂM BỒ-TÁT PHỔ MÔN

Lúc bấy giờ Vô Tận Ý Bồ-tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, vén áo lộ vai phải, chắp tay hướng Phật và bạch rằng:

"Bạch Thế Tôn! Quán Thế Âm Bồ-tát do nhân duyên gì mà tên là Quán Thế Âm?"

Phật bảo Vô Tận Ý Bồ-tát:

"Thiện nam tử! Nếu có vô lượng tỷ ức chúng sinh đang chịu các khổ não mà nghe đến Quán Thế Âm Bồ-tát, rồi họ nhất tâm xưng danh hiệu ngài. Quán Thế Âm Bồ-tát lập tức quán sát âm thanh đó và họ đều được giải thoát.

Nếu có người trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát, như bị rơi vào trong lửa lớn, lửa chẳng thể đốt. Đây là do sức uy thần của Bồ-tát.

Nếu bị nước lớn cuốn trôi mà xưng danh hiệu ngài thì liền gặp chỗ cạn.

Nếu có một tỷ ức chúng sinh vì tìm vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, trân châu, và châu báu nên phải vào trong biển lớn, giả sử bị gió bão và thổi thuyền của họ trôi dạt tới nước quỷ bạo ác. Trong đó dẫu chỉ có một người xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát, thì các người ấy đều được thoát khỏi nạn quỷ bạo ác.

Do nhân duyên này mà tên là Quán Thế Âm.

Nếu lại có người sắp bị hại mà xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát, thì dao gậy của người cầm liền gãy từng đoạn và liền được giải thoát.

Nếu quỷ tiệp tật và quỷ bạo ác đầy khắp trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới muốn đến não loạn người, nhưng khi nghe họ xưng niệm Quán Thế Âm Bồ-tát, thì những ác quỷ đó còn không thể dùng mắt dữ để nhìn, huống nữa là gây hại.

Nếu lại có người, hoặc có tội hay vô tội, bị gông cùm xiềng xích trói buộc nơi thân, khi họ xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát, thì thảy đều đứt rã và liền được giải thoát.

Nếu kẻ oán tặc đầy khắp trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới và có một vị thương chủ dẫn các thương gia, họ mang theo châu báu quý và đi qua đường hiểm trở.

Trong đó có một người xướng rằng:

"Các thiện nam tử! Chớ nên sợ hãi, các ông nên nhất tâm xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát, vị Bồ-tát đó hay dùng Pháp vô úy ban cho chúng sinh. Nếu các ông xưng danh hiệu ngài thì sẽ thoát khỏi oán tặc này."

Khi nghe xong, các thương gia đều đồng thanh niệm:

"♪ Quy mạng Quán Thế Âm Bồ-tát."

Do xưng danh hiệu ấy nên họ liền được giải thoát.

Này Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Đại Bồ-tát có sức uy thần rộng lớn như thế.



Nếu có chúng sinh nào nhiều tham dục mà thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ-tát, thì liền được lìa tham dục.

Nếu nhiều sân hận mà thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ-tát, thì liền được lìa sân hận.

Nếu nhiều si mê mà thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ-tát, thì liền được lìa si mê.

Này Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ-tát có sức uy thần to lớn và nhiều lợi ích như thế. Cho nên chúng sinh phải luôn trì niệm.



Nếu có người nữ, giả như muốn cầu con trai và lễ bái cúng dường Quán Thế Âm Bồ-tát thì liền sinh con trai với phúc đức trí tuệ.

Giả như muốn cầu con gái thì liền sinh con gái với tướng mạo đoan chính; do vốn đã gieo trồng phúc đức đời trước nên mọi người kính mến.

Này Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ-tát có sức uy thần như thế.



Nếu có chúng sinh nào cung kính và lễ bái Quán Thế Âm Bồ-tát, thì phúc ấy không tiêu mất. Vì thế tất cả chúng sinh đều nên thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát.

Này Vô Tận Ý! Nếu có người thọ trì danh hiệu của chư Bồ-tát với số lượng bằng số cát trong 62 ức sông Hằng, lại trọn đời cúng dường y phục, ẩm thực, giường nệm, và thuốc thang.

Ý ông nghĩ sao? Công đức của thiện nam tử và thiện nữ nhân đó có nhiều chăng?"

Ngài Vô Tận Ý đáp rằng:

"Rất nhiều, thưa Thế Tôn!"

Đức Phật bảo:

"Nếu lại có người thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát, cho đến chỉ một lần lễ bái cúng dường, thì phúc của hai người ấy bằng nhau không khác, suốt tỷ ức kiếp cũng không thể cùng tận.

Này Vô Tận Ý! Thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát được vô lượng vô biên phúc đức và lợi ích như thế."



Vô Tận Ý Bồ-tát bạch Phật rằng:

"Bạch Thế Tôn! Quán Thế Âm Bồ-tát chu du giáo hóa ở Thế giới Kham Nhẫn như thế nào? Ngài thuyết Pháp cho chúng sinh ra sao? Sức phương tiện việc đó thế nào?"

Phật bảo Vô Tận Ý Bồ-tát:

"Thiện nam tử! Nếu có chúng sinh trong quốc độ nào đáng dùng thân Phật để độ thoát, Quán Thế Âm Bồ-tát liền hiện thân Phật mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân Độc Giác để hóa độ, ngài liền hiện thân Độc Giác mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân Thanh Văn để hóa độ, ngài liền hiện thân Thanh Văn mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân Phạm Vương để hóa độ, ngài liền hiện thân Phạm Vương mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân Năng Thiên Đế để hóa độ, ngài liền hiện thân Năng Thiên Đế mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân Tự Tại Thiên để hóa độ, ngài liền hiện thân Tự Tại Thiên mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân Đại Tự Tại Thiên để hóa độ, ngài liền hiện thân Đại Tự Tại Thiên mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân thiên đại tướng quân để hóa độ, ngài liền hiện thân thiên đại tướng quân mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân Đa Văn Thiên Vương để hóa độ, ngài liền hiện thân Đa Văn Thiên Vương mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân tiểu vương để hóa độ, ngài liền hiện thân tiểu vương mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân trưởng giả để hóa độ, ngài liền hiện thân trưởng giả mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân cư sĩ để hóa độ, ngài liền hiện thân cư sĩ mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân tể quan để hóa độ, ngài liền hiện thân tể quan mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân Phạm Chí để hóa độ, ngài liền hiện thân Phạm Chí mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân Bhikṣu, Bhikṣuṇī, Thanh Tín Nam, hay Thanh Tín Nữ để hóa độ, ngài liền hiện thân Bhikṣu, Bhikṣuṇī, Thanh Tín Nam, hay Thanh Tín Nữ mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân phu nhân của trưởng giả, cư sĩ, tể quan, hay Phạm Chí để hóa độ, ngài liền hiện thân phu nhân mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân đồng nam hay đồng nữ để hóa độ, ngài liền hiện thân đồng nam hay đồng nữ mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân trời, rồng, quỷ tiệp tật, tầm hương thần, phi thiên, kim sí điểu, nghi thần, đại mãng xà, hoặc người và phi nhân để hóa độ, ngài liền đều hiện ra mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân Chấp Kim Cang Thần để hóa độ, ngài liền hiện thân Chấp Kim Cang Thần mà thuyết Pháp cho họ.

Này Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ-tát ấy thành tựu công đức như thế. Với đủ mọi thân hình, ngài chu du các cõi nước để độ thoát chúng sinh. Vì thế các ông phải nên nhất tâm cúng dường Quán Thế Âm Bồ-tát. Quán Thế Âm Đại Bồ-tát đó ở trong nguy nạn sợ hãi có thể ban điều không sợ hãi. Cho nên ở Thế giới Kham Nhẫn đều gọi ngài là bậc thí vô úy."



Vô Tận Ý Bồ-tát thưa với Phật rằng:

"Thưa Thế Tôn! Con nay phải cúng dường Quán Thế Âm Bồ-tát."

Vô Tận Ý Bồ-tát liền cởi xâu chuỗi anh lạc châu báu trên cổ với trị giá trăm nghìn lượng vàng để dâng lên và nói rằng:

"Nhân Giả! Xin ngài hãy nhận Pháp thí của xâu chuỗi anh lạc bằng trân bảo này."

Khi ấy Quán Thế Âm Bồ-tát không chịu nhận.

Ngài Vô Tận Ý lại nói với Quán Thế Âm Bồ-tát rằng:

"Nhân Giả! Cúi mong ngài hãy thương xót chúng tôi mà nhận lấy xâu chuỗi anh lạc này."

Lúc bấy giờ Phật bảo Quán Thế Âm Bồ-tát:

"Ông nên thương xót Vô Tận Ý Bồ-tát này và bốn chúng đệ tử, cùng trời, rồng, quỷ tiệp tật, tầm hương thần, phi thiên, kim sí điểu, nghi thần, đại mãng xà, người và phi nhân mà nhận xâu chuỗi anh lạc ấy."



Khi đó Quán Thế Âm Bồ-tát vì thương xót bốn chúng đệ tử, cùng trời, rồng, người và phi nhân mà nhận xâu chuỗi anh lạc đó, rồi chia làm hai phần: một phần dâng lên Đức Phật Năng Tịch và một phần phụng hiến tháp của Đức Phật Đa Bảo.

"Này Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ-tát có sức uy thần tự tại để đi khắp Thế giới Kham Nhẫn như thế."



Lúc bấy giờ Vô Tận Ý Bồ-tát dùng kệ hỏi Phật:

"Thế Tôn đủ diệu tướng

Con nay xin hỏi Ngài

Phật tử nhân duyên gì

Tên là Quán Thế Âm"

Viên mãn diệu tướng Tôn

Kệ đáp Vô Tận Ý

"Ông nghe hạnh Quán Âm

Khéo ứng khắp mọi nơi

Nguyện rộng sâu như biển

Nhiều kiếp chẳng nghĩ bàn

Hầu nhiều nghìn ức Phật

Phát đại nguyện thanh tịnh

Ta vì ông lược nói

Nghe tên cùng thấy thân

Tâm niệm chớ lãng quên

Khéo diệt khổ các cõi

Giả sử sinh lòng hại

Xô rớt hầm lửa lớn

Do sức niệm Quán Âm

Hầm lửa biến thành ao

Hoặc trôi dạt biển khơi

Các nạn quỷ cá rồng

Do sức niệm Quán Âm

Trên sóng nổi không chìm

Hoặc tại đỉnh Diệu Cao

Bị người xô đẩy xuống

Do sức niệm Quán Âm

Như mặt trời trên không

Hoặc bị kẻ ác rượt

Rơi xuống núi Kim Cang

Do sức niệm Quán Âm

Chẳng tổn đến mảy lông

Hoặc gặp oán tặc vây

Cầm đao muốn gây hại

Do sức niệm Quán Âm

Tức liền khởi từ tâm

Hoặc bị khổ nạn vua

Khi hành hình sắp chết

Do sức niệm Quán Âm

Đao liền gãy từng đoạn

Hoặc tù giam gông cùm

Tay chân bị xiềng xích

Do sức niệm Quán Âm

Đứt rã được giải thoát

Trù ếm các thuốc độc

Muốn hại đến thân người

Do sức niệm Quán Âm

Quay ngược lại kẻ gây

Hoặc gặp quỷ bạo ác

Rồng độc các loài quỷ

Do sức niệm Quán Âm

Thảy đều không dám hại

Hoặc thú dữ bao vây

Răng móng nhọn đáng sợ

Do sức niệm Quán Âm

Vội tháo chạy biệt tăm

Rắn độc cùng bọ cạp

Phun khí độc khói lửa

Do sức niệm Quán Âm

Nghe tiếng tự bỏ đi

Mây sấm nổ điện chớp

Mưa đá trút mưa lớn

Do sức niệm Quán Âm

Lập tức được tiêu tan

Chúng sinh bị khốn ách

Vô lượng khổ bức thân

Quán Âm sức diệu trí

Khéo cứu khổ thế gian

Đầy đủ sức thần thông

Rộng tu trí phương tiện

Các cõi nước mười phương

Không nơi nào chẳng hiện

Mọi loài các thú dữ

Địa ngục quỷ bàng sinh

Sinh già bệnh chết khổ

Lần lần sẽ diệt tan

Chân quán thanh tịnh quán

Trí tuệ quán rộng lớn

Bi quán và từ quán

Thường nguyện thường chiêm ngưỡng

Vô cấu thanh tịnh quang

Trời tuệ phá đen tối

Khéo trừ tai gió lửa

Chiếu sáng khắp thế gian

Thể bi giới sấm vang

Lòng từ như mây lớn

Pháp cam lộ mưa thấm

Lửa phiền não diệt tan

Tranh tụng đến chỗ quan

Trong quân trận sợ hãi

Do sức niệm Quán Âm

Các oán đều lui tan

Diệu âm Quán Thế Âm

Phạm âm hải triều âm

Vượt hơn tiếng thế gian

Cho nên phải luôn niệm

Niệm niệm chớ sinh nghi

Tịnh thánh Quán Thế Âm

Trong khổ não tử ách

Bảo hộ làm chỗ nương

Đủ tất cả công đức

Mắt hiền trông chúng sinh

Biển phúc tụ vô lượng

Vì thế nên đỉnh lễ"

Lúc bấy giờ Trì Địa Bồ-tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, rồi ngài ở trước Phật thưa rằng:

"Thưa Thế Tôn! Nếu có chúng sinh nào nghe về Phẩm Quán Thế Âm Bồ-tát với Đạo nghiệp tự tại và sức thần thông phổ môn thị hiện của ngài, thì phải biết công đức của người đó không nhỏ."

Khi Phật thuyết Phẩm Phổ Môn này thì trong chúng hội có 84.000 chúng sinh đều phát tâm Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác.

☸ PHẨM 26: TỔNG TRÌ

Lúc bấy giờ Dược Vương Bồ-tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, vén áo lộ vai phải, chắp tay hướng Phật và bạch rằng:

"Bạch Thế Tôn! Nếu thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào có thể thọ trì Kinh Pháp Hoa, hoặc đọc tụng rành rẽ, hay biên chép Kinh này, người đó sẽ được bao nhiêu phúc đức?"

Phật bảo ngài Dược Vương:

"Ý ông nghĩ sao? Nếu có thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào cúng dường tám triệu ức nayuta Hằng Hà sa chư Phật, phúc đức của người ấy có nhiều chăng?"

"Rất nhiều, thưa Thế Tôn!"

Đức Phật bảo:

"Nếu thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào mà có thể đối với Kinh này, dẫu chỉ một bài kệ bốn câu, thọ trì đọc tụng, giảng giải nghĩa lý, và như thuyết tu hành, thì công đức sẽ rất nhiều."

Lúc bấy giờ Dược Vương Bồ-tát thưa với Phật rằng:

"Thưa Thế Tôn! Con nay sẽ truyền cho những vị thuyết Pháp một thần chú để bảo hộ họ."

Chú thuyết như vầy:

|| anye manye mane mamane citte carite same samitā viśānte mukte muktatame same aviṣame samasame jaye [kṣaye] akṣaye akṣiṇe śānte samite dhāraṇi ālokabhāṣe pratyavekṣaṇi nidhiru abhyantara-niviṣṭe abhyantara-pāriśuddhi-mutkule araḍe paraḍe sukāṅkṣi asamasame buddhavilokite dharmaparīkṣite saṁghanirghoṣaṇi [nirghoṇi] bhayābhayaviśodhani mantre mantrākṣayate rute rutakauśalye akṣaye akṣayavanatāye [vakkule] valoḍra amanyanatāye [svāhā] ||



|| a ni e, ma ni e, ma ne, ma ma ne, chít te, cha ri te, sa me, sa mi ta, vi san te, múc te, múc ta ta me, sa me, a vi sa me, sa ma sa me, cha de, [cờ sa de], ác sa de, ác si ne, san te, sa mi te, đa ra ni, a lô ca ba se, bờ ra ty a vắt sa ni, ni đi ru, a bi an ta ra - ni vi sờ te, a bi an ta ra - ba ri su đi - muốt cu le, a ra đe, ba ra đe, su cân cờ si, a sa ma sa me, bu đà vi lô ki te, đa ma ba ri cờ si te, sâm ga nia gô sa ni, [nia gô ni] bai da bai da vi sô đa ni, man tre, man tra cờ sa da te, ru te, ru ta cau sa ly e, ác sa de, ác sa da va na ta de, [vác cu le], va lô đờ ra, a ma ni a na ta de, [sờ qua ha] ||

"Thưa Thế Tôn! Thần chú này đã có 62 ức Hằng Hà sa chư Phật tuyên thuyết. Nếu có kẻ nào hủy phạm vị Pháp sư đó, thì cũng tức là hủy phạm chư Phật kia."

Khi ấy Đức Phật Năng Tịch ngợi khen Dược Vương Bồ-tát rằng:

"Lành thay, lành thay, Dược Vương! Ông vì lòng từ mẫn muốn ủng hộ vị Pháp sư đó nên tuyên thuyết thần chú này để mang đến nhiều lợi ích cho chúng sinh."



Lúc bấy giờ Dũng Thí Bồ-tát thưa với Phật rằng:

"Thưa Thế Tôn! Con vì người thọ trì đọc tụng Kinh Pháp Hoa mà cũng tuyên thuyết thần chú để ủng hộ. Nếu vị Pháp sư đó đắc tổng trì này thì sẽ không có quỷ tiệp tật, quỷ bạo ác, quỷ xú uế, quỷ khởi thi, quỷ úng hình, hay loài ngạ quỷ nào mà có thể tìm chỗ hở để trục lợi."

Liền ở trước Phật mà nói chú rằng:

|| jvale mahājvale ukke [tukke] mukke aḍe aḍāvati nṛtye nṛtyāvati iṭṭini viṭṭini ciṭṭini nṛtyani nṛtyāvati [svāhā] ||



|| chờ qua le, ma ha chờ qua le, úc ke, [túc ke], múc ke, a đe, a đa qua ti, nơ ri ty e, nơ ri ty a qua ti, ít ti ni, vít ti ni, chít ti ni, nơ ri ty a ni, nơ ri ty a qua ti, [sờ qua ha] ||

"Thưa Thế Tôn! Thần chú này đã có chư Phật nhiều như cát sông Hằng tuyên thuyết, và hết thảy chư Phật kia cũng đều tùy hỷ. Nếu có kẻ nào hủy phạm vị Pháp sư đó, thì cũng tức là hủy phạm chư Phật kia."



Lúc bấy giờ Đa Văn Hộ Thế Thiên Vương thưa với Phật rằng:

"Thưa Thế Tôn! Vì thương xót chúng sinh, con cũng muốn ủng hộ vị Pháp sư đó nên thuyết chú này."

Chú thuyết như vầy:

|| aṭṭe [taṭṭe] naṭṭe vanaṭṭe anaḍe nāḍi kunaḍi [svāhā] ||



|| át te, [tát te], nát te, va nát te, a na đe, na đi, cu na đi, [sờ qua ha] ||

"Thưa Thế Tôn! Bằng vào thần chú này, con sẽ ủng hộ vị Pháp sư đó. Con cũng sẽ đích thân ủng hộ người thọ trì Kinh này, khiến trong vòng 100 yojana sẽ không có những hoạn nạn xảy đến thân họ."



Lúc bấy giờ Trì Quốc Thiên Vương cũng đang hiện diện trong Pháp hội và cùng nghìn vạn ức nayuta tầm hương thần cung kính vây quanh.

Ngài đến ở trước Phật, chắp tay và thưa Phật rằng:

"Thưa Thế Tôn! Con cũng dùng thần chú để ủng hộ người thọ trì Kinh Pháp Hoa."

Chú thuyết như vầy:

|| agaṇe gaṇe gauri gandhāri caṇḍāli mātaṅgi [pukkasi] saṁkule vrūsali sisi svāhā ||



|| a ga ne, ga ne, gau ri, gan đa ri, chân đa li, ma tân gi, [búc ca si], sâm cu le, vờ ru sa li, si si, sờ qua ha ||

"Thưa Thế Tôn! Thần chú này đã có 42 Hằng Hà sa chư Phật tuyên thuyết. Nếu có kẻ nào hủy phạm vị Pháp sư đó, thì cũng tức là hủy phạm chư Phật kia."



Lúc bấy giờ có các vị quỷ nữ bạo ác:

- Vị thứ nhất tên là Kết Phược,

- Vị thứ nhì tên là Ly Kết,

- Vị thứ ba tên là Khúc Xỉ,

- Vị thứ tư tên là Hoa Xỉ,

- Vị thứ năm tên là Hắc Xỉ,

- Vị thứ sáu tên là Đa Phát,

- Vị thứ bảy tên là Vô Yếm Túc,

- Vị thứ tám tên là Trì Anh Lạc,

- Vị thứ chín tên là Hà Sở,

- Vị thứ mười tên là Đoạt Nhất Thiết Chúng Sinh Tinh Khí.

Mười vị quỷ nữ bạo ác này, cùng Quỷ Tử Mẫu với con và hàng quyến thuộc của bà, đều đến chỗ của Phật và đồng thanh thưa với Phật rằng:

"Thưa Thế Tôn! Chúng con cũng muốn ủng hộ người đọc tụng thọ trì Kinh Pháp Hoa, và diệt trừ các hoạn nạn cho họ. Nếu có kẻ nào tìm chỗ hở của vị Pháp sư đó thì chẳng thể được."

Liền ở trước Phật mà nói chú rằng:

|| iti me iti me iti me iti me iti me

|

| nime nime nime nime nime

|

| ruhe ruhe ruhe ruhe [ruhe]

|

| stuhe stuhe stuhe stuhe stuhe [svāhā] ||





|| i ti, me, i ti, me, i ti, me, i ti, me, i ti, me

|

| ni me, ni me, ni me, ni me, ni me

|

| ru he, ru he, ru he, ru he, [ru he]

|

| sờ tu he, sờ tu he, sờ tu he, sờ tu he, sờ tu he, [sờ qua ha] ||

"[Thưa Thế Tôn!] Kẻ phá hoại có thể leo lên đầu chúng con, nhưng chớ có não loạn vị Pháp sư đó. Sẽ không có quỷ tiệp tật, quỷ bạo ác, quỷ đói, quỷ xú uế, quỷ khởi thi, quỷ nhập xác chết đi gϊếŧ người, quân thần ác tinh, quỷ điên hắc sắc, quỷ điên cuồng, quỷ tiệp tật khởi thi, người khởi thi quỷ; sẽ không có bệnh sốt nào từ một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, hay cho đến bảy ngày; sẽ không có bất cứ bệnh sốt nào; sẽ không có loài nào hiện hình của nam tử hay nữ nhân, hoặc bé trai hay bé gái, cho đến trong mộng chúng cũng chẳng thể não hại."

Liền ở trước Phật mà nói kệ rằng:

"Nếu kẻ nào không thuận chú này

Não loạn hại vị Pháp sư đây

Đầu sẽ bị vỡ thành bảy mảnh

Gãy như là nhánh cây hoa lan

Bằng quả báo tội gϊếŧ mẹ cha

Hoặc như là pha ép trộn dầu

Hay cân đo lừa dối gạt người

Tội phá Tăng Bhikṣu Thiên Nhiệt

Pháp sư này ai dám hủy phạm

Tai ương như thế sẽ mắc lấy"

Khi các vị quỷ nữ bạo ác nói bài kệ đó xong, họ thưa với Phật rằng:

"Thưa Thế Tôn! Chúng con cũng sẽ đích thân ủng hộ người thọ trì đọc tụng và tu hành Kinh này, hầu khiến họ được an ổn, lìa xa mọi hoạn nạn và tiêu trừ mọi thuốc độc."

Phật bảo các vị quỷ nữ bạo ác:

"Lành thay, lành thay! Các cô như chỉ có thể ủng hộ người thọ trì tên Kinh Pháp Hoa, thì đã có phúc đức chẳng thể suy lường. Huống nữa là ủng hộ những ai thọ trì trọn vẹn và cúng dường Kinh này với hương hoa, xâu chuỗi anh lạc, hương bột, hương xoa, hương đốt, tràng phan, lọng che, âm nhạc; họ lại thắp muôn loại đèn, như là đèn bơ, đèn dầu, đèn dầu thơm, đèn dầu hoa lài, đèn dầu hoa ngọc lan, đèn dầu hoa vũ thời, đèn dầu hoa sen xanh, và trăm nghìn loại đèn như thế để cúng dường.

Này Hà Sở! Các cô cùng quyến thuộc nên ủng hộ vị Pháp sư đó như vậy."

Khi thuyết Phẩm Tổng Trì này xong, 68.000 người đắc Vô Sinh Pháp Nhẫn.

☸ PHẨM 27: BỔN SỰ CỦA VUA DIỆU TRANG NGHIÊM

Lúc bấy giờ Phật bảo các đại chúng:

"Vào thuở quá khứ xa xưa vô lượng vô biên vô số kiếp chẳng thể nghĩ bàn, có Đức Phật hiệu là Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí Như Lai, Ứng Cúng, Chính Đẳng Chính Giác. Quốc độ tên là Quang Minh Trang Nghiêm. Kiếp tên là Hỷ Kiến.

Trong thời giáo hóa của Đức Phật kia có một vị quốc vương tên Diệu Trang Nghiêm. Phu nhân của nhà vua tên là Tịnh Đức. Phu nhân có hai người con. Vị vương tử thứ nhất tên là Tịnh Tạng. Vị vương tử thứ nhì tên Tịnh Nhãn. Hai vị vương tử này có sức đại uy thần với phúc đức trí tuệ. Họ đã từ xa xưa tu hành Đạo Bồ-tát.

Các Pháp như là: Bố Thí Độ, Trì Giới Độ, Nhẫn Nhục Độ, Tinh Tấn Độ, Thiền Định Độ, Diệu Tuệ Độ, Phương Tiện Độ, Từ Bi Hỷ Xả, và cho đến 37 Phẩm Trợ Đạo. Họ thảy đều minh liễu thông đạt.

Họ lại đắc Bồ-tát Tịnh Chính Định, Nhật Tinh Tú Chính Định, Tịnh Quang Chính Định, Tịnh Sắc Chính Định, Tịnh Chiếu Minh Chính Định, Trường Trang Nghiêm Chính Định, và Đại Uy Đức Tạng Chính Định. Đối với các chính định này, họ cũng đều thông đạt.



Lúc bấy giờ Đức Phật kia vì muốn dẫn đạo vua Diệu Trang Nghiêm cùng thương xót chúng sinh, Ngài đã thuyết Kinh Pháp Hoa này.

Khi ấy hai vị vương tử Tịnh Tạng và Tịnh Nhãn đến chỗ của mẹ, chắp mười đầu ngón tay và thưa rằng:

"Xin mẫu hậu hãy đi đến Đạo Tràng của Đức Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí. Chúng con cũng sẽ đi theo để thân cận, cúng dường và lễ bái Ngài.

Vì sao thế? Bởi Đức Phật ấy đang thuyết Kinh Pháp Hoa cho tất cả trời người. Chúng ta nên đi nghe và thọ trì."

Phu nhân bảo các con rằng:

"Phụ vương của các con tin theo ngoại đạo và chấp sâu vào pháp của Phạm Chí. Các con nên đến thưa hỏi và khuyên cha cùng đi."

Vương tử Tịnh Tạng và Tịnh Nhãn chắp mười đầu ngón tay và thưa với mẹ rằng:

"Chúng con là Pháp Vương Tử, nhưng sao lại sinh ở nhà tà kiến này!"

Phu nhân bảo các con rằng:

"Các con nên thương xót phụ vương mà hóa hiện thần biến. Nếu cha của các con thấy được, tâm sẽ thanh tịnh, hoặc giả là sẽ nghe chúng ta mà đi đến chỗ của Phật."



Bởi xót thương phụ vương, hai vị vương tử này vọt lên hư không với độ cao bằng bảy cây cọ và hóa hiện mọi thần biến:

- đi đứng nằm ngồi ở trong hư không;

- phần trên của thân vọt ra nước;

- phần dưới của thân phun ra lửa;

- phần dưới của thân vọt ra nước;

- phần trên của thân phun ra lửa;

- hoặc hiện thân lớn đầy khắp hư không;

- lại hiện ra thân nhỏ, rồi từ thân nhỏ lại hiện ra thân lớn;

- ở không trung biến mất và hốt nhiên xuất hiện trên đất;

- vào trong đất như vào trong nước;

- đi trên nước như đi trên đất.

Hai vị vương tử hiện ra đủ mọi thần biến như thế để khiến cho tâm của phụ vương họ được thanh tịnh và sinh tín giải. Khi thấy các con mình có thần lực như thế, lòng của quốc vương vui mừng khôn xiết và được điều chưa từng có.

Ngài chắp tay hướng về các con của mình mà nói rằng:

"Thầy của các con là ai? Các con là đệ tử của ai?"

Hai vị vương tử thưa rằng:

"Đại vương! Bây giờ có Đức Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí đang ngồi trên Pháp tòa ở dưới cội Đạo thụ bảy báu và rộng giảng Kinh Pháp Hoa cho hết thảy trời người trong thế gian. Đức Phật kia là thầy của chúng con. Chúng con là đệ tử của Ngài."

Quốc vương bảo các con của mình rằng:

"Trẫm nay cũng muốn thấy sư phụ của các con. Chúng ta hãy cùng đi!"



Hai vị vương tử liền từ trên không hạ xuống, họ đến chỗ của mẹ và chắp tay thưa rằng:

"Nay phụ vương đã sinh tín giải và có thể phát tâm Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác. Chúng con đã vì cha mà làm Phật sự, vậy xin mẫu hậu cho phép chúng con được xuất gia tu Đạo ở nơi Đức Phật kia."

Lúc bấy giờ hai vị vương tử muốn tuyên lại ý nguyện ở trên nên dùng kệ thưa với mẹ rằng:

"Mong mẫu hậu cho phép chúng con

Được xuất gia làm bậc Đạo Nhân

Chư Phật xuất thế rất khó gặp

Chúng con đây muốn theo học Phật

Rất quý hiếm như hoa linh thụy

Gặp được Phật lại càng khó hơn

Thoát các nạn cũng lại rất khó

Xin cho phép chúng con xuất gia"

Phu nhân liền bảo rằng:

"Mẹ cho phép các con xuất gia. Vì sao thế? Bởi chư Phật rất khó gặp."

Hai vị vương tử liền thưa với cha mẹ rằng:

"Lành thay, thưa cha mẹ! Xin cha mẹ giờ hãy đi đến Đạo Tràng của Đức Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí để thân cận và cúng dường.

Vì sao thế? Bởi chư Phật rất khó gặp, hiếm như hoa linh thụy nở. Việc ấy giống như có một con rùa chỉ còn một mắt mà gặp được một khúc gỗ có lỗ thủng đang trôi. Do phúc đức sâu dày ở đời trước nên chúng con trong đời này mới gặp Phật Pháp. Thế nên, phụ vương và mẫu hậu hãy nghe lời chúng con nói và cho phép chúng con đi xuất gia.

Vì sao thế? Bởi chư Phật rất khó gặp và sinh vào thời có Phật còn trụ thế lại càng khó hơn."



Lúc bấy giờ, hậu cung của vua Diệu Trang Nghiêm có 84.000 người, họ thảy đều có thể thọ trì Kinh Pháp Hoa này.

Tịnh Nhãn Bồ-tát đã từ lâu thông đạt Pháp Hoa Chính Định. Còn Tịnh Tạng Bồ-tát đã ở trong vô lượng tỷ ức kiếp thông đạt Ly Chư Ác Thú Chính Định, là vì ngài muốn khiến tất cả chúng sinh xa lìa các đường ác.

Phu nhân của nhà vua đắc Chư Phật Tập Chính Định và có thể biết các tạng bí mật của chư Phật.

Hai vị vương tử đã dùng sức phương tiện như thế, khéo giáo hóa cha mình, khiến tâm sinh tín giải, và yêu mến Phật Pháp.

Khi đó, vua Diệu Trang Nghiêm cùng với quần thần và hàng quyến thuộc, Phu nhân Tịnh Đức cùng với các cung nữ ở hậu cung và hàng quyến thuộc, hai người con của nhà vua cùng với 42.000 người, họ đồng đi đến chỗ của Phật. Khi đến nơi, họ cúi đầu đỉnh lễ với trán chạm sát chân của Phật, nhiễu Phật ba vòng và đứng qua một bên.

Lúc bấy giờ Đức Phật kia thuyết Pháp cho nhà vua. Ngài chỉ dạy sự lợi ích an lạc và khiến cho nhà vua vui mừng khôn xiết.

Khi ấy, vua Diệu Trang Nghiêm cùng phu nhân của ngài cởi xâu chuỗi anh lạc trân châu với trị giá bằng cả trăm nghìn lượng vàng và rải lên Đức Phật. Ở trong hư không, chúng hóa thành một đài báu với bốn trụ. Trong đài báu có giường báu lớn với một tỷ y phục cõi trời để trang trí xung quanh. Trên đó có một vị Phật đang ngồi xếp bằng với tư thế hoa sen và phóng đại quang minh.

Khi ấy, vua Diệu Trang Nghiêm nghĩ như vầy:

"Thân Phật rất hiếm có, đoan nghiêm thù đặc, và thành tựu sắc tướng vi diệu đệ nhất."

Bấy giờ Đức Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí bảo bốn chúng đệ tử rằng:

"Các ông có thấy vua Diệu Trang Nghiêm đang chắp tay đứng ở trước Ta không? Vị vua này sẽ trở thành Bhikṣu trong giáo Pháp của Ta. Ngài sẽ tinh tấn tu hành, hộ trì Đạo Pháp của chư Phật và sẽ thành Phật, hiệu là Kiên Cố Thụ Vương. Quốc độ tên là Đại Quang. Kiếp tên là Đại Cao Vương. Đức Phật Kiên Cố Thụ Vương ấy có vô lượng chư Bồ-tát và vô lượng Thanh Văn. Cõi nước đó bằng phẳng và công đức như thế!



Sau đó, nhà vua liền nhường ngôi cho người em của mình, rồi cùng với phu nhân, hai vị vương tử, và hàng quyến thuộc mà xuất gia tu Đạo trong giáo Pháp của Phật. Sau khi nhà vua đã xuất gia, trong 84.000 năm, ngài luôn chuyên cần tinh tấn tu hành Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.

Về sau, ngài đắc Nhất Thiết Tịnh Công Đức Trang Nghiêm Chính Định, rồi ngài liền bay lên hư không với độ cao bằng bảy cây cọ và thưa với Phật rằng:

"Thưa Thế Tôn! Tịnh Tạng và Tịnh Nhãn của con đã hoàn tất Phật sự. Với thần thông biến hóa, họ đã chuyển hóa tà tâm của con, khiến con an trụ trong Phật Pháp, và thấy được Thế Tôn. Hai vị đó là Thiện Tri Thức của con. Vì muốn con phát khởi căn lành đời trước và muốn con được lợi ích, cho nên họ mới đến sinh ở nhà con."

Lúc bấy giờ Đức Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí bảo vua Diệu Trang Nghiêm rằng:

"Như thị, như thị! Đúng như lời ông nói. Nếu có thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào gieo trồng căn lành, thì đời đời họ sẽ gặp Thiện Tri Thức. Vị Thiện Tri Thức ấy có thể làm Phật sự, chỉ dạy điều lợi ích an lạc, và khiến họ vào Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác.

Này đại vương! Phải biết rằng, gặp Thiện Tri Thức là một nhân duyên lớn, bởi vì sẽ được ngài giáo hóa, khiến thấy được Phật và phát tâm Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác.

Này đại vương! Ông có thấy hai người con của ngài đây chăng? Hai vị này đã từng cúng dường và thân cận cung kính 65 tỷ ức nayuta Hằng Hà sa chư Phật. Họ thọ trì Kinh Pháp Hoa ở nơi của chư Phật, thương xót các chúng sinh tà kiến, và muốn dìu dắt chúng sinh trụ nơi chính kiến."

Vua Diệu Trang Nghiêm liền từ hư không hạ xuống và thưa với Đức Phật kia rằng:

"Thưa Thế Tôn! Như Lai rất là hiếm có. Do bởi công đức và trí tuệ, nên hào quang trên đỉnh nhục kế của Phật sáng chói hiển hách. Mắt Phật dài, rộng, và có màu xanh biếc. Tướng bạch hào ở giữa đôi chân mày trắng như ánh trăng rằm. Răng Phật trắng, đều đặn, và luôn có quang minh. Môi Phật có màu sắc đỏ thắm như màu của quả gấc."

Khi vua Diệu Trang Nghiêm đã tán thán vô lượng tỷ ức công đức như thế xong, ngài ở trước Như Lai, nhất tâm chắp tay, và lại thưa với Đức Phật kia rằng:

"Thưa Thế Tôn! Pháp của Như Lai rất hiếm có. Như Lai thành tựu viên mãn công đức vi diệu chẳng thể nghĩ bàn. Giáo Pháp và giới luật của Phật mang đến sự bình an và vui vẻ. Từ nay về sau, con sẽ không bao giờ chạy theo tâm ý của mình, không sinh tà kiến, kiêu mạn, sân hận, hoặc bất kỳ những tâm ác nào."

Khi nói lời ấy xong, ngài đỉnh lễ Đức Phật kia rồi từ biệt."



Phật bảo đại chúng rằng:

"Ý các ông nghĩ sao? Vua Diệu Trang Nghiêm thuở đó nào có ai khác, nay chính là Hoa Đức Bồ-tát. Phu nhân Tịnh Đức, nay chính là Phật Tiền Quang Chiếu Trang Nghiêm Tướng Bồ-tát. Phu nhân Tịnh Đức vì xót thương vua Diệu Trang Nghiêm và hàng quyến thuộc, nên mới sinh trong đó. Còn hai vị vương tử, nay chính là Dược Vương Bồ-tát và Dược Thượng Bồ-tát.

Dược Vương Bồ-tát và Dược Thượng Bồ-tát đã thành tựu các công đức lớn như thế. Họ đã gieo trồng căn lành ở trong vô lượng tỷ ức chư Phật và thành tựu các công đức lành chẳng thể nghĩ bàn. Nếu có ai biết được danh hiệu của hai vị Bồ-tát này, thì hết thảy hàng trời người trong thế gian đều phải nên lễ bái."

Khi Phật thuyết Phẩm Bổn Sự của Vua Diệu Trang Nghiêm, có 84.000 người xa rời trần cấu. Ở trong tất cả pháp, họ đắc Pháp nhãn thanh tịnh.

☸ PHẨM 28: PHỔ HIỀN BỒ-TÁT KHUYẾN PHÁT

Lúc bấy giờ Phổ Hiền Bồ-tát với sức thần thông tự tại, uy đức cùng danh xưng vang khắp, ngài đã đến từ phương đông cùng với vô lượng vô biên chẳng thể tính đếm kể số lượng chư đại Bồ-tát. Các cõi nước đi qua thảy đều chấn động, có hoa sen báu rơi xuống và trỗi lên vô lượng tỷ ức loại âm nhạc.

Lại cũng có vô số trời, rồng, quỷ tiệp tật, tầm hương thần, phi thiên, kim sí điểu, nghi thần, đại mãng xà, người và phi nhân vây quanh Phổ Hiền Bồ-tát. Họ cùng đi theo ngài và mỗi vị đều hiện sức uy đức thần thông. Khi đến núi Thứu Phong tại Thế giới Kham Nhẫn, họ đỉnh lễ Đức Phật Năng Tịch, rồi đi nhiễu bên phải bảy vòng.

Tiếp đến, Phổ Hiền Bồ-tát thưa với Phật rằng:

"Thưa Thế Tôn! Con ở quốc độ của Đức Phật Bảo Uy Đức Thượng Vương và từ nơi xa đã nghe ở Thế giới Kham Nhẫn đang thuyết Kinh Pháp Hoa. Thế nên, con cùng với vô lượng vô biên tỷ ức chư Bồ-tát đều đồng đến nghe và thọ trì.

Ngưỡng mong Thế Tôn hãy thuyết giảng.

Sau khi Như Lai diệt độ, nếu có thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào muốn đắc Kinh Pháp Hoa này thì phải làm sao?"

Phật bảo Phổ Hiền Bồ-tát:

"Sau khi Như Lai diệt độ, nếu có thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào thành tựu bốn Pháp thì sẽ đắc Kinh Pháp Hoa này:

1. Người đó được chư Phật hộ niệm.

2. Người đó gieo trồng căn lành.

3. Người đó nhập chính định.

4. Người đó phát tâm muốn cứu độ hết thảy chúng sinh.

Sau khi Như Lai diệt độ, nếu có thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào thành tựu bốn Pháp như thế, họ chắc chắn sẽ đắc Kinh Pháp Hoa này."



Lúc bấy giờ Phổ Hiền Bồ-tát thưa với Phật rằng:

"Thưa Thế Tôn! Trong đời ác trược của 500 năm sau cùng, nếu có ai thọ trì Kinh điển này, con sẽ bảo hộ, diệt trừ các hoạn nạn, và khiến họ được an ổn. Không ai có thể trục lợi người ấy, hoặc giả là ma, con của ma, ma nữ, ma dân, hoặc bị ma nhập, quỷ tiệp tật, quỷ bạo ác, quỷ úng hình, quỷ hút tinh khí, quỷ khởi thi, quỷ xú uế, quỷ nhập xác chết đi gϊếŧ người, hay kẻ xấu não loạn--tất cả đều chẳng thể làm hại.

Hoặc giả người này đang đi hay đứng và đọc tụng Kinh này, khi ấy con sẽ cưỡi voi trắng chúa sáu ngà và cùng chư đại Bồ-tát đến nơi đó. Con sẽ hiện thân, bảo hộ cúng dường, an ủi tâm họ, và cũng là vì cúng dường Kinh Pháp Hoa.

Hoặc giả người ấy đang ngồi và tư duy Kinh này, lúc đó con cũng sẽ cưỡi voi trắng chúa và hiện thân ở trước họ. Nếu người ấy quên mất một câu hay một bài kệ của Kinh Pháp Hoa, thì con sẽ chỉ dạy và cùng họ đọc tụng cho đến khi thông thạo.

Lúc bấy giờ, người thọ trì đọc tụng Kinh Pháp Hoa sẽ thấy được thân con, lòng vui mừng vô cùng và càng thêm tinh tấn. Do thấy được con, họ sẽ liền đắc chính định và các tổng trì như là: Toàn Tổng Trì, Bách Thiên Vạn Ức Toàn Tổng Trì, và Pháp Âm Phương Tiện Tổng Trì. Họ sẽ đắc các tổng trì như thế.



Thưa Thế Tôn! Trong đời ác trược của 500 năm sau cùng, nếu có những vị Bhikṣu, Bhikṣuṇī, Thanh Tín Nam, hoặc Thanh Tín Nữ nào thành khẩn, thọ trì, đọc tụng, biên chép, hay muốn tu tập Kinh Pháp Hoa này, thì trong 21 ngày nên nhất tâm tinh tấn. Lúc 21 ngày hoàn mãn, con sẽ cưỡi voi trắng sáu ngà với vô lượng Bồ-tát vây quanh. Ở trước người đó, con sẽ hiện một thân hình mà hết thảy chúng sinh đều hoan hỷ muốn thấy, để thuyết Pháp và chỉ dạy sự lợi ích an lạc. Con cũng sẽ truyền cho họ một thần chú. Bởi đắc tổng trì đó nên sẽ không có loài phi nhân nào có thể phá hoại và họ cũng chẳng bị người nữ mê hoặc. Con cũng sẽ đích thân luôn bảo hộ người ấy. Kính mong Thế Tôn cho phép con tuyên thuyết thần chú này."

Liền ở trước Phật mà nói chú rằng:

|| adaṇḍe daṇḍapati daṇḍāvartani daṇḍakuśale daṇḍasudhāri sudhārapati buddhapaśyane sarvadhāraṇi āvartani saṁvartani saṁghaparīkṣite saṁghanirghātani dharmaparīkṣite sarva-sattva-rutakauśalyānugate siṁhavikrīḍite [anuvarte vartani vartāli svāhā] ||



|| a đan đe, đan đa ba ti, đan đa qua ta ni, đan đa cu sa le, đan đa su đa ri, su đa ra ba ti, bu đà ba si a ne, sa qua đa ra ni, a qua ta ni, sâm qua ta ni, sâm ga ba ri cờ si te, sâm ga nia ga ta ni, đa ma ba ri cờ si te, sa qua - sách toa - ru ta cau sa ly a nu ga te, sim ha vi cờ ri đi te, [a nu qua te, va tan ni, va ta li, sờ qua ha] ||

"Thưa Thế Tôn! Nếu có Bồ-tát nào nghe được thần chú này, thì phải biết là do sức thần thông của Phổ Hiền Bồ-tát.

Nếu Kinh Pháp Hoa lưu hành ở châu Thắng Kim và có ai thọ trì, thì họ nên nghĩ như vầy:

"Đây đều là do sức uy thần của Phổ Hiền Bồ-tát."

Nếu có người thọ trì đọc tụng, chính niệm tư duy, giảng giải nghĩa thú, và như thuyết tu hành, thì phải biết người ấy đang tu hạnh Phổ Hiền. Họ đã gieo trồng sâu căn lành nơi vô lượng vô biên chư Phật và đã được chư Như Lai lấy tay xoa đỉnh đầu.

Nếu có ai chỉ biên chép Kinh này thì khi người ấy mạng chung, họ sẽ sinh lên trời Tam Thập Tam. Lúc đó, 84.000 thiên nữ sẽ trỗi các loại âm nhạc để chào đón. Họ sẽ liền đội mũ bảy báu và cùng với các thể nữ thọ hưởng vui sướиɠ. Huống nữa là thọ trì đọc tụng, chính niệm tư duy, giảng giải nghĩa thú, và như thuyết tu hành.

Nếu có ai thọ trì đọc tụng và giảng giải nghĩa thú của Kinh này, thì khi người ấy mạng chung, 1.000 Đức Phật sẽ dang tay tiếp dẫn, khiến họ chẳng bị kinh hoàng và chẳng đọa đường ác. Họ sẽ liền vãng sinh đến chỗ của Từ Thị Bồ-tát ở trên trời Hỷ Túc. Từ Thị Bồ-tát có 32 tướng, cùng với chư đại Bồ-tát vây quanh, và có một tỷ ức thiên nữ quyến thuộc. Khi được sinh ở đó, họ sẽ có những công đức và sự lợi ích như thế.

Vì thế, người trí phải nên hết lòng tự mình biên chép Kinh này, hoặc bảo người khác biên chép, thọ trì đọc tụng, chính niệm tư duy, và như thuyết tu hành.

Thưa Thế Tôn! Con nay sẽ dùng sức thần thông để bảo hộ Kinh này. Sau khi Như Lai diệt độ, con sẽ rộng lưu truyền ở châu Thắng Kim và chẳng để đoạn tuyệt."



Lúc bấy giờ Đức Phật Năng Tịch ngợi khen rằng:

"Lành thay, lành thay, Phổ Hiền! Ông có thể hộ trì Kinh này và khiến chúng sinh được nhiều sự lợi ích an vui. Ông đã thành tựu công đức không thể nghĩ bàn và có lòng đại từ bi thâm sâu. Từ thuở xa xưa, ông đã phát tâm Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác và có thể phát nguyện để dùng thần thông bảo hộ Kinh này. Ta sẽ dùng sức thần thông để thủ hộ cho những ai có thể thọ trì danh hiệu của Phổ Hiền Bồ-tát.

Này Phổ Hiền! Nếu có ai thọ trì đọc tụng, chính niệm tư duy, tu tập, và biên chép Kinh Pháp Hoa này, thì phải biết người ấy đã thấy Đức Phật Năng Tịch, như chính họ đã từ kim khẩu của Phật mà nghe được Kinh điển này.

- Phải biết người ấy đã cúng dường Đức Phật Năng Tịch.

- Phải biết người ấy đã được Phật ngợi khen: “Lành thay!”

- Phải biết người ấy đã được Đức Phật Năng Tịch lấy tay xoa đỉnh đầu.

- Phải biết người ấy đã được Pháp y của Đức Phật Năng Tịch phủ lên thân.

Những người như thế sẽ không bao giờ còn tham trước dục lạc của thế gian và chẳng còn ưa thích sách vở của ngoại đạo. Người đó cũng không còn vui thích thân cận với họ cùng những kẻ xấu ác, kẻ làm nghề mổ gϊếŧ, kẻ nuôi lợn dê gà chó, kẻ săn bắn, hay kẻ buôn bán nữ sắc.

Tâm ý của người này sẽ ngay thẳng, có chính niệm, và có lực của phúc đức. Họ sẽ không bị ba độc não hại và cũng chẳng bị ganh ghét, ngã mạn, tà mạn, hay tăng thượng mạn não loạn. Người đó thiểu dục tri túc và có thể tu hạnh Phổ Hiền.



Này Phổ Hiền! Sau khi Như Lai diệt độ và trong 500 năm sau cùng, nếu ông thấy có ai thọ trì đọc tụng Kinh Pháp Hoa thì phải nên nghĩ như vầy:

"Người này không bao lâu sẽ đến ngồi ở Đạo Tràng, phá tan các chúng ma, và đắc Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác. Rồi chuyển Pháp luân, đánh trống Pháp, thổi loa Pháp, và rưới mưa Pháp. Ngài sẽ ngồi trên Pháp tòa sư tử ở giữa đại chúng và hàng trời người."

Này Phổ Hiền! Vào đời sau, nếu ai thọ trì đọc tụng Kinh điển này thì người ấy sẽ chẳng còn tham trước y phục, ẩm thực, giường nệm hay những đồ vật trong cuộc sống. Sở nguyện của họ chẳng hư dối. Lại ở hiện đời sẽ được phúc báo.

Nếu có ai khinh rẻ và hủy báng họ mà nói rằng:

"Thiệt là kẻ điên rồ! Làm ba cái việc vô ích và cuối cùng chẳng được gì!"

Tội báo như thế là đời đời sẽ không có mắt.

Nếu có ai cúng dường và ngợi khen họ, thì ở đời này sẽ được quả báo lành.

Nếu ai thấy có người thọ trì Kinh này mà lại nói ra lỗi sai hay điều ác của họ, dẫu thật hay chẳng thật, thì hiện đời kẻ đó sẽ mắc bệnh hủi.

Nếu ai khinh chê và chế giễu họ, thì đời đời răng sẽ thưa hoặc bị rụng, môi trề, mũi trẹt, tay chân co quắp, mắt hình tam giác, thân thể hôi hám với máu mủ mụn nhọt, bụng chứa toàn nước, hơi thở đứt quãng, hoặc các trọng bệnh xấu ác.

Vì thế, Phổ Hiền! Nếu ai thấy có người thọ trì Kinh điển này thì phải nên từ xa chào đón và cung kính họ như Phật."



Khi nói Phẩm Phổ Hiền Bồ-tát Khuyết Phát này, có vô lượng vô biên Bồ-tát nhiều như cát sông Hằng đắc Bách Thiên Vạn Ức Toàn Tổng Trì. Có chư Bồ-tát bằng số vi trần của Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới được đầy đủ Đạo Phổ Hiền.

Khi Phật thuyết Kinh này xong, ngài Phổ Hiền và chư Bồ-tát, ngài Thu Lộ Tử và hàng Thanh Văn, cùng trời, rồng, người và phi nhân, hết thảy chúng hội đều hoan hỷ vô lượng. Họ thọ trì lời Phật dạy, đỉnh lễ và cáo lui.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ♦ Hết quyển 7

Dịch sang cổ văn: Pháp sư Đồng Thọ (344-413)

Dịch sang tiếng Việt: Tại gia Bồ-tát giới Thanh tín nam Nguyên Thuận

Dịch nghĩa: 28/2/2012 ◊ Cập nhật: 4/9/2021

☸ Cách đọc âm tiếng Phạn

nayuta: na du ta

yojana: dô cha na

Bhikṣu: bíc su

Bhikṣuṇī: bíc su ni